|
||
| Thời sự | Chính trị | Kinh tế | VH-XH | Tòa soạn - Bạn đọc | Gia đình - Đời sống | Đời sống - Pháp luật | Về TRANG | ||
![]()
|
Phát triển công nghiệp chế biến ở Bảo Lộc Dựa trên cơ sở phát triển nông nghiệp hàng hóa HẢI PHONG Một đặc điểm cơ bản của ngành công nghiệp thị xã đó là công nghiệp chế biến và dựa trên nền tảng nguyên liệu của các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa như chè, cà phê, dâu tằm là thế mạnh của địa phương. Năm 2006, giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 94% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của thị xã, trong đó, sản phẩm đồ uống chiếm 28,19%, dệt chiếm 61,38%; kim ngạch xuất khẩu của các sản phẩm chè, cà phê, tơ tằm đạt 96 triệu USD, chiếm tỷ trọng 84% tổng kim ngạch xuất khẩu của thị xã, đồng thời tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa phát triển sản xuất nông nghiệp với sản xuất công nghiệp tại địa phương. Đối với các doanh nghiệp đầu tư trong nước, trong giai đoạn 2000-2006, trên địa bàn thị xã Bảo Lộc đã có thêm 57 doanh nghiệp ngoài quốc doanh với tổng số vốn đăng ký khoảng trên 137 tỷ đồng. Riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, đến nay trên địa bàn thị xã đã có 14 doanh nghiệp (trong đó, có 10 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, 2 doanh nghiệp liên doanh và 2 doanh nghiệp hợp đồng hợp tác kinh doanh), tổng số vốn đầu tư khoảng 27 triệu USD, nâng tổng công suất chế biến cà phê của thị xã lên khoảng 100 ngàn tấn cà phê, 28 ngàn tấn chè, 350 tấn tơ sống các loại, tổng công suất xe sợi tơ tằm khoảng 900 tấn/năm, 250 ngàn sản phẩm cơ khí..., giải quyết công ăn việc làm ổn định cho 8.000 lao động công nghiệp. Chỉ tính riêng năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 930 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 50% giá trị sản xuất toàn ngành; kim ngạch xuất khẩu đạt 105 triệu USD, chiếm tỷ trọng trên 70% giá trị xuất khẩu. Các sản phẩm chủ yếu như: chè chế biến đạt 22,5 ngàn tấn, tơ tằm đạt 1,12 ngàn tấn, lụa tơ tằm đạt 1,9 triệu m, hàng may mặc đạt 4,2 triệu sản phẩm, cà phê sơ chế đạt 80,5 ngàn tấn... Như vậy, trong giai đoạn 2000-2006, tốc độ tăng trưởng công nghiệp toàn thị xã bình quân đạt 16,8%, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế hiện nay đạt 36,7%. Hoạt động của các doanh nghiệp đã góp phần đáng kể cho tăng trưởng công nghiệp, chuyển giao một phần công nghệ canh tác và chế biến tiên tiến, giải quyết việc làm cho người lao động tại địa phương. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn thị xã vẫn còn gặp một số khó khăn, bất cập. Trước hết phải kể đến các sản phẩm chè và cà phê, hầu hết nguyên liệu cung ứng cho sản xuất công nghiệp còn mang tính manh mún và chỉ đáp ứng được 50% sản lượng chè, 15% sản lượng cà phê; đặc biệt chất lượng sản phẩm không đồng nhất, chưa kiểm soát chặt chẽ các yếu tố gây nguy cơ về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với chè và cà phê. Bên cạnh đó, các sản phẩm tơ tằm, trên 70% lượng hàng hóa xuất khẩu có nguồn gốc nguyên liệu ngoại nhập. Một đặc điểm cơ bản khác về nguyên liệu là giá trị giao dịch của nông sản hàng hóa chưa phản ánh thực chất về chất lượng và chịu sự điều tiết mạnh của cung cầu ảo và mùa vụ. Mặt khác, do tập quán canh tác quảng canh phát triển tự phát, chưa chủ động về thủy lợi nên chất lượng của hầu hết nông sản hàng hóa chưa cao; hiệu quả sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh một địa phương được coi là trung tâm công nghiệp của tỉnh. Về quy mô đầu tư và trình độ công nghệ, trừ một bộ phận doanh nghiệp đầu tư chế biến chè Olong, hầu hết các doanh nghiệp đầu tư trên địa bàn có quy mô vừa và nhỏ, công nghệ sản xuất chủ yếu ở công đoạn sơ chế, bán thành phẩm, có giá trị gia tăng thấp, lao động có trình độ thấp, công suất khai thác chế biến còn hạn chế. Xuất phát từ nguồn nguyên liệu và công nghệ chế biến còn hạn chế nên hầu hết các sản phẩm chế biến mới dừng lại ở chỗ sơ chế, bán thành phẩm, có chất lượng không ổn định. Cụ thể, đối với sản phẩm chè chế biến, tỷ trọng chè đen xuất khẩu và chè sơ chế giá trị thấp chiếm trên 90%, cà phê sơ chế trên 99%, hầu hết các sản phẩm tơ tằm xuất khẩu là tơ xe và lụa mộc chưa có các sản phẩm may mặc có giá trị tăng cao, tỷ lệ tinh chế sản phẩm trong chế biến khoáng sản chỉ đạt ở mức 20%. Để ngành công nghiệp Bảo Lộc phát triển mạnh và bền vững cần phải dựa trên cơ sở phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa có năng suất và chất lượng cao, đồng thời phát triển công nghệ chế biến hướng đến sản phẩm tiêu dùng có thương hiệu và có sức cạnh tranh trên thị trường. Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đầu tư chế biến khoáng sản và thu hút các dự án đầu tư chế biến các sản phẩm công nghiệp từ khoáng sản phục vụ cho ngành công nghiệp cơ bản, công nghiệp cơ khí chế tạo. Để làm được điều đó, trước hết ngành công nghiệp Bảo Lộc cần nhanh chóng khôi phục và duy trì hoạt động của ngành công nghiệp chế biến; phối hợp với các cơ quan chuyên ngành triển khai hoạt động kiểm soát về chất lượng nông sản và nông sản chế biến; triển khai công tác tư vấn về công nghệ, thiết bị cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư các dự án chế biến nông, lâm, khoáng sản; nhanh chóng xây dựng mô hình trang trại, vùng nguyên liệu tập trung có năng suất cao gắn kết với cơ sở chế biến công nghiệp theo quy hoạch...
|
|
|
Trồng măng cụt trên cao nguyên DIỆP QUỲNH Măng cụt (thứ trái cây vỏ dày màu tím sẫm, ruột ngon ngọt) vẫn được coi là thứ trái cây cao cấp, là một trong những loại trái cây có giá khá cao trên thị trường. Xưa nay, người tiêu dùng chỉ biết măng cụt đến từ miền Tây – vựa trái cây lớn của cả nước, nhưng gần đây, nhiều người mua đã tìm đến một vùng măng cụt mới mang thương hiệu “măng cụt Bảo Lộc”. Vùng đất của trà, cà phê, dâu tằm đã có thêm một thương hiệu trái cây được người mua rất ưa chuộng. THƯƠNG HIỆU MĂNG CỤT BẢO LỘC Trên thực tế, không chỉ vùng đất phù sa sông Tiền, sông Hậu mới trồng được thứ trái cây cao cấp này. Ngay tại vùng cao nguyên Bảo Lộc, măng cụt đã được trồng khá lâu như một thứ cây trong vườn nhà. Có lẽ người cao niên nhất trồng măng cụt là cụ bà Huỳnh Thị Minh, một trong những người “khai sơn phá thạch” đất B’Lao xưa. Trên đất vườn nhà cụ Minh tại đường Trần Phú, Lộc Sơn có chừng năm, bảy cây măng cụt chừng 40 năm tuổi. Mỗi cây to bằng người ôm, tán xòe rộng, thân cao khoảng 4-5m, lá dày nhẵn bóng. Mỗi cây măng cụt trong vườn cho thu hoạch hàng trăm kg quả, có cây thu 3 tạ (300kg) một vụ. Với thời giá hiện tại từ 22-25 ngàn đồng/kg, vườn măng cụt mang lại cho gia đình hàng chục triệu/năm. Ngoài ra, dù trồng măng cụt chưa lâu năm như cụ Minh nhưng các gia đình trên địa bàn Bảo Lộc trồng măng cụt cũng khá nhiều, mỗi nhà chừng vài cây đến hơn chục cây, mỗi năm thu vài tạ trái, cho thu nhập hàng chục triệu một năm. Nhưng điều làm nên sự khác biệt, tạo ra thương hiệu “măng cụt Bảo Lộc” không phải nằm ở năng suất. Trái măng cụt trồng trên cao nguyên cho chất lượng trái rất cao, vỏ có màu tím bóng đẹp, vị thịt quả ngọt thơm. Và nhất là, nếu cây măng cụt miền Tây cho trái vào tháng 5, tháng 6 thì trái măng cụt Bảo Lộc cho trái trễ hơn, vào khoảng tháng 7. Chính bởi vậy, măng cụt Bảo Lộc không bị “đụng hàng”, giá luôn cao hơn và tiêu thụ rất nhanh. Theo nhiều người buôn trái cây cho biết, ngay măng cụt miền Tây nhưng ra trễ hơn chính vụ, nhiều vựa trái cây cũng quảng cáo rằng đó là măng cụt Bảo Lộc nhằm bán giá cao hơn. Chính bởi vậy, lâu nay phong trào trồng măng cụt đã dần dần lan rộng khắp thị xã Bảo Lộc và mở rộng ra tới Bảo Lâm. Cây măng cụt không còn là trái cây vườn nhà mà đang từ từ phát triển, trở thành vùng măng cụt hàng hóa trên cao nguyên. ĐỂ MĂNG CỤT NỞ HOA Ông Trần Công Đạt, xã Lộc Thành, Bảo Lâm, người trồng măng cụt khá lâu năm khẳng định, cây măng cụt rất hợp với thổ nhưỡng địa phương. Trong vườn nhà ông Đạt có hai cây măng cụt 24 năm tuổi, trồng được 8 năm thì cho trái bói, trọng lượng khoảng 8 trái/kg. Ông Đạt đã trồng thêm trên 30 cây măng cụt đã được 6 năm tuổi. Ông cho biết: “Nếu trồng măng cụt mà chăm bón tốt, khoảng 6 năm sẽ cho trái bói. Hiện tôi đang phát triển vườn măng cụt nhưng cũng chưa có hướng đi rõ ràng vì toàn làm mò, không nắm được khoa học kỹ thuật”. Quả thật, đầu ra cho trái măng cụt là điều không cần bận tâm vì măng cụt Bảo Lộc cung không đủ cầu, chỉ riêng nhà hàng Tâm Châu (Bảo Lộc) đã vào tận vườn thu mua tất cả số trái hiện có, với giá nhỉnh hơn giá thị trường. Nhưng người trồng măng cụt Bảo Lộc cũng đứng trong thế khó khăn bởi hầu hết lượng măng cụt trồng nơi đây là tự phát, người nông dân tự tìm mua cây giống về trồng và hầu như không biết gì về kỹ thuật, chăm bón măng cụt. Bởi vậy, năng suất măng cụt Bảo Lộc chưa được xác định, cây cũng có bệnh mà chưa tìm ra cách chữa trị. Hiện người trồng măng cụt Bảo Lộc đang lo lắng vì rất nhiều cây bệnh xì mủ khiến trái xuống giá mà chưa có cách chữa trị. Không chỉ dừng lại ở những gia đình trồng măng cụt đơn lẻ, cây măng cụt đang được nông dân Bảo Lộc phát triển với mục tiêu đưa măng cụt trở thành cây trồng đặc sản. Tại các xã Đạm Bri và Đại Lào, hàng ngàn cây măng cụt giống đã được nông dân đưa vào trồng và dù chưa cho trái, sự phát triển của cây giống cho thấy sức thích ứng tốt. Măng cụt, thứ trái cây cao cấp, giá ổn định với đầu ra không hạn chế bắt đầu bén rễ trên đất Bảo Lộc. Tuy nhiên, điều nông dân cần là sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật trồng và chăm bón để cây măng cụt phát triển và cho trái tốt, ổn định, để thương hiệu “măng cụt Bảo Lộc” được khẳng định trên thị trường, thứ trái cây đặc sản sẽ nở hoa trên vùng đất cao nguyên.
|
|
|
|
|
||
| Thời sự | Chính trị | Kinh tế | VH-XH | Bên lề | Tòa soạn - Bạn đọc | Sắc màu Festival | Gia đình - Đời sống | Đời sống - Pháp luật | Về TRANG | ||