Công tác quản lý các đề tài, dự án KHCN là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động quản lý nhà nước về KHCN tỉnh Lâm Đồng. Trong 30 năm qua, được sự chỉ đạo của Ủy ban KHKT nhà nước (nay là Bộ KHCN), của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự phối hợp của các ngành, địa phương và sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, hoạt động KHCN của tỉnh nói chung và hoạt động quản lý đề tài, dự án nói riêng đã không ngừng được cải tiến, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về KHCN, đặc biệt là việc ra đời Nghị quyết số 02-NQ/HNTW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về KHCN; Luật KHCN năm 2000, Nghị định 81/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KHCN, đã tạo sự chuyển biến cơ bản trong nhận thức và hành động của các ngành, các cấp về vai trò của KHCN. Hoạt động quản lý khoa học của tỉnh đã từng bước vào nề nếp và ngày một cải tiến theo hướng nâng cao hiệu quả ứng dụng các kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất và đời sống.
Giai đoạn 1979 - 1999
Sau khi được thành lập, hoạt động của đơn vị chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực quản lý tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng và phổ biến thông tin khoa học kỹ thuật. Đến năm 1985, ngành mới bắt đầu làm nhiệm vụ tập hợp, chọn lựa triển khai áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi phục vụ sản xuất và đời sống.
Đón nhận đường lối đổi mới của Đảng, hoạt động KHCN địa phương đã từng bước được triển khai phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường. Sau khi có Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 30/3/1991 về KHCN trong sự nghiệp đổi mới, hoạt động quản lý KHCN của tỉnh đã từng bước đi vào nề nếp. Hội đồng khoa học kỹ thuật cấp tỉnh, cấp ngành được thành lập để tham mưu, tư vấn xác định các nhiệm vụ KHCN hàng năm, 5 năm. Các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Trong giai đoạn này, đã có hơn 130 nhiệm vụ nghiên cứu được triển khai với một số thành quả nổi bật của hoạt động triển khai nhiệm vụ KHCN trong giai đoạn này là:
Lĩnh vực điều tra cơ bản được thực hiện tương đối có hệ thống trên toàn tỉnh như điều tra, xây dựng các bản đồ nước ngầm, bản đồ đất, bản đồ sinh khí hậu, bản đồ tổng hợp các yếu tố tự nhiên, bản đồ địa mạo - thổ nhưỡng, bản đồ hiện trạng rừng và đất nông nghiệp, bản đồ địa chất khoáng sản, bản đồ khoáng sản vật liệu xây dựng… phục vụ công tác quản lý của các ngành tại địa phương.
Ứng dụng công nghệ GIS để xây dựng hệ thống thông tin địa lý về tài nguyên, môi trường tỉnh Lâm Đồng nhằm lưu trữ và quản lý có hệ thống các số liệu điều tra cơ bản hiện có; tiến hành điều tra khảo sát hiện trạng ô nhiễm môi trường thị xã Bảo Lộc phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; điều tra khảo sát, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc, huyện Cát Tiên.
Lĩnh vực nông nghiệp: đã khảo nghiệm, chọn lọc và đưa vào sản xuất nhiều giống lúa, bắp lai, đậu tương… có năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng của tỉnh.
Phục tráng các giống chè có năng suất cao như PH1, TB11, TB14, LĐ 97. Khảo nghiệm các giống chè nhập nội có triển vọng như Ô long, Tứ Quý, Yabukita, Thúy Ngọc, Kim Tuyên để bổ sung cho tập đoàn giống chè của tỉnh, thay thế các giống chè cũ thoái hóa. Ứng dụng kỹ thuật ươm chè cành, các giống chè có năng suất cao ra diện rộng; các biện pháp thâm canh, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp, nâng cao năng suất và chất lượng chè.
Đưa vào trồng các giống cà phê Catimo, Caltura và Arabusta năng suất cao, kháng bệnh tốt. Chọn lọc các giống dâu năng suất cao như Bầu đen, VA186, Kaval 2, S7 - CB, Sa nhị luân để phổ biến và ứng dụng rộng rãi cho các vùng trồng dâu của tỉnh.
Tiến hành điều tra hiện trạng ô nhiễm môi trường vùng sản xuất rau Đà Lạt; xây dựng và phổ biến quy trình sản xuất các loại rau an toàn ra diện rộng nhằm giảm thiểu dư lượng nitrat, hóa chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng và hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường đất, nước ở vùng rau Đà Lạt và các huyện phụ cận. Triển khai mô hình sản xuất rau sạch trong nhà lưới với hệ thống tưới tự động, tưới thấm cung cấp sản phẩm cho các nhà hàng, siêu thị cao cấp…
Chuyển giao kỹ thuật tiến bộ thích hợp cho nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được ngành quan tâm. Chương trình “Xây dựng các mô hình ứng dụng KHCN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi” do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hỗ trợ tại huyện Lạc Dương; xã Phi Liêng, huyện Lâm Hà; xã Lộc Lâm, huyện Bảo Lâm đã cung cấp vật tư, phân bón, chuyển giao kỹ thuật canh tác một số loại cây trồng phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của vùng, lắp đặt các trạm thủy điện nhỏ cung cấp điện cho các trạm y tế, trường học, hộ gia đình ở một số địa bàn điện lưới chưa có khả năng vươn tới.
Lĩnh vực lâm nghiệp - thủy lợi: đã tiến hành xây dựng các mô hình vườn hộ, vườn đồi, kỹ thuật canh tác nông - lâm kết hợp trên đất dốc; nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh cho rừng thông trồng tập trung; bước đầu ứng dụng kỹ thuật Hạt nhân để nghiên cứu quá trình bồi lắng lòng hồ Đạ Hàm, Đạ Tẻh, Tây Di Linh và Tuyền Lâm.
Lĩnh vực công nghiệp: đã xây dựng và triển khai thực hiện các đề án thuộc Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 1991 - 1995 và đến năm 2000 gồm những vấn đề về phát triển giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, công nghiệp chế biến nông lâm sản, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản.
Điều tra, đánh giá trình độ công nghệ các ngành sản xuất công nghiệp trong tỉnh, làm cơ sở cho việc nghiên cứu xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ của địa phương trong những năm đầu thế kỷ 21. Nghiên cứu sản xuất bột kaolin trắng làm phụ gia cho công nghiệp sản xuất giấy; lắp đặt hệ thống phòng chống sét cho các công trình xây dựng…
Các vấn đề nghiên cứu về khoa học xã hội - nhân văn vừa có ý nghĩa thiết thực phục vụ công tác quản lý lãnh đạo, vừa góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc ở địa phương và nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý. Trên 50 nhiệm vụ được triển khai trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào xây dựng bộ địa dư chí tỉnh Lâm Đồng; đào tạo, bồi dưỡng và giáo dục toàn diện thế hệ học sinh từ mầm non đến phổ thông trung học; chăm lo đời sống tinh thần cho trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo vệ trẻ em trước các tệ nạn xã hội; chăm sóc sức khỏe ban đầu; lao động việc làm; tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý cấp xã, phường, thị trấn… Ngoài ra, còn có những đề tài nghiên cứu về vấn đề dân tộc, tôn giáo, bản sắc văn hóa các dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng, đấu tranh giai cấp của nhân dân các dân tộc tỉnh Lâm Đồng.
Tóm lại, trong giai đoạn 1979 - 1999, nhiều đề tài, dự án được triển khai đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ rệt, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, nhờ đưa nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, góp phần làm tăng năng suất và sản lượng lương thực, rau, hoa, cây công nghiệp dài ngày... Công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường được thực hiện có hệ thống, có trọng tâm, trọng điểm, là cơ sở giúp các cấp lãnh đạo trong công tác quản lý, điều hành.
Tuy nhiên, các đề tài, dự án được triển khai chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp; số lượng đề tài, dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp còn ít (chiếm 10%); chưa chú trọng nghiên cứu những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến những sản phẩm có thế mạnh tại địa phương.
Giai đoạn 2000 đến nay
Cụ thể hóa Luật KHCN, ngày 17/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định 81/2002/NĐ-CP quy định chi tiết việc thi hành một số điều của Luật KHCN, nhấn mạnh “KHCN là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững đất nước”.
Hoạt động quản lý KHCN giai đoạn này được triển khai có hệ thống hơn. Chức năng tham mưu trong việc cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước nhằm cải tiến quản lý và thúc đẩy hoạt động KHCN. Cụ thể UBND tỉnh đã ban hành các văn bản như Quyết định 143/QĐ-UB ngày 31/12/2001 của UBND tỉnh ban hành kèm theo 11 chương trình nghiên cứu trọng điểm giai đoạn 2001 - 2005; Quyết định 42/2002/QĐ-UB ngày 27/3/2002 quy định việc xác định, tuyển chọn nghiệm thu, ứng dụng và quản lý đề tài KHCN cấp tỉnh; Quyết định số 195/2004/QĐ-UBND ngày 21/10/2004 ban hành chương trình KHCN và đào tạo nguồn nhân lực tỉnh Lâm Đồng năm 2005, định hướng đến 2010; Quyết định số 32/2007/QĐ-UBND ngày 23/9/2007 ban hành quy định công tác quản lý nhiệm vụ khoa học trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng…
Công tác quản lý các đề tài, dự án KHCN tại địa phương đã từng bước được đổi mới từ khâu đề xuất, xác định nhiệm vụ, xét duyệt đề cương đến nghiệm thu, ứng dụng kết quả nghiên cứu phục vụ sản xuất và đời sống. Công tác quản lý hoạt động khoa học được cải tiến theo hướng nâng cao trách nhiệm và quyền chủ động trong đề xuất, thực hiện nhiệm vụ KHCN cho các cơ quan quản lý, tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện đề tài, dự án KHCN; nâng cao hiệu quả ứng dụng của các đề tài, dự án KHCN phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Trong giai đoạn này, đã có hơn 200 đề tài, dự án được triển khai theo các chương trình trọng điểm với một số kết quả nổi bật như sau:
Về chương trình KHCN phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông lâm nghiệp, nông thôn miền núi
Nghiên cứu xác định những nội dung và giải pháp cụ thể để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Lâm Đồng từ năm 2000 đến 2010; tập trung nghiên cứu phát triển các giống rau, hoa, cây ăn trái, cây công nghiệp (chè, cà phê…) và dược liệu mang lợi thế đặc thù của địa phương có năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.
Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp sinh học tổng hợp trong phòng, trừ sâu, bệnh hại một số cây trồng tại Lâm Đồng.
Nghiên cứu công nghệ xử lý, bảo quản và đóng gói thích hợp cho một số loại hoa cắt cành phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.
Nghiên cứu công nghệ, thiết kế, chế tạo hệ thống nhà màng, nhà lưới phù hợp với các vùng sinh thái tại Đà Lạt, Đơn Dương và Đức Trọng.
Nghiên cứu phục tráng giống dứa Cayenne tại Đơn Dương nhằm cung cấp giống dứa có chất lượng tốt cho vùng nguyên liệu dứa, phục vụ công nghiệp chế biến nước quả đóng hộp trên địa bàn Đơn Dương, Đức Trọng.
Xây dựng mô hình trồng cà chua theo hướng nông nghiệp công nghệ cao tại Đơn Dương, Đức Trọng.
Tiếp tục khảo nghiệm, chọn lọc các giống chè nhập nội cho năng suất cao, phẩm chất tốt để cải tạo các vườn chè thoái hóa; xây dựng thí điểm vùng nguyên liệu chè an toàn trên địa bàn thị xã Bảo Lộc, huyện Bảo Lâm. Nhân các tinh dòng cà phê Robusta và Arabica có năng suất, chất lượng cao ra diện rộng. Xây dựng mô hình chuyên canh trồng dâu nuôi tằm theo công nghệ cao. Khảo nghiệm một số dòng ca cao có triển vọng tiến đến phát triển, mở rộng diện tích trồng cây ca cao tại Lâm Đồng.
Chú trọng nghiên cứu các mô hình tổ chức sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ để tăng hiệu quả các sản phẩm truyền thống và sản phẩm mới. Mở rộng mô hình sản xuất rau an toàn quy mô hợp tác xã tại Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng, Lạc Dương.
Điều tra và đánh giá thực trạng phát triển cây xanh đô thị tại Đà Lạt nhằm xây dựng tập đoàn giống cây xanh phù hợp với điều kiện khí hậu và cảnh quan đặc trưng của thành phố.
Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi phục vụ phát triển nông thôn và vùng đồng bào dân tộc ít người, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nhằm mục đích xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế hàng hóa, dịch vụ bền vững.
Khảo nghiệm các giống cỏ, chế biến các loại thức ăn phục vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nghiên cứu và chọn lọc các giống thủy sản nước ngọt có giá trị để phát triển nuôi trồng tại các thủy vực có ưu thế.
Tiếp tục công tác điều tra cơ bản để hoàn tất việc xây dựng các bản đồ đất đai và nước ngầm toàn tỉnh phục vụ cho phát triển nông nghiệp của các địa phương trong tỉnh.
Về chương trình KHCN phục vụ phát triển du lịch
Xây dựng chiến lược, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực của ngành du lịch - dịch vụ Lâm Đồng nhằm góp phần thúc đẩy phát triển du lịch theo hướng bền vững, đẩy nhanh ngành kinh tế du lịch của Lâm Đồng hòa nhập với du lịch khu vực và thế giới, đảm bảo đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế động lực của tỉnh.
Nghiên cứu phát triển du lịch mang bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa Lâm Đồng, đề xuất các giải pháp cụ thể xây dựng một số mô hình thôn buôn văn hóa - du lịch ở một số huyện trong tỉnh như nghiên cứu phát huy văn hóa truyền thống Chu Ru, xây dựng làng văn hóa du lịch xã Pró, huyện Đơn Dương nhằm phục vụ phát triển du lịch theo hướng bền vững; nghiên cứu xây dựng đề án khu du lịch sinh thái hồ Đạ Tẻh, Đạ Hàm - kết hợp du lịch sinh thái vườn hồ gắn với bảo tồn và phát huy làng nghề truyền thống nhằm nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc bản địa tại huyện Đạ Tẻh; nghiên cứu xây dựng môi trường du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng theo hướng phát triển du lịch bền vững; ứng dụng thương mại điện tử phục vụ công tác quản lý nhà hàng, khách sạn; ứng dụng công nghệ thông tin trong các khách sạn, lữ hành, vận chuyển…
Về chương trình KHCN phục vụ phát triển công nghiệp
Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển phù hợp đối với các doanh nghiệp.
Nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong chế biến các loại nông lâm sản; nghiên cứu quy trình công nghệ để chế biến các mặt hàng rau quả phục vụ nội tiêu và xuất khẩu như hoàn thiện quy trình công nghệ và sản xuất thử nghiệm trà hòa tan từ trái mát mát; ứng dụng công nghệ sấy hồng quy mô công nghiệp để sản xuất sản phẩm hồng sấy khô; xây dựng công nghệ trích ly hợp chất có hoạt tính sinh học trong dược liệu atisô với hiệu suất cao làm nguyên liệu để bào chế thuốc.
Nghiên cứu các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản; nghiên cứu xây dựng chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; ứng dụng công nghệ đun nước nóng sinh hoạt bằng năng lượng mặt trời tại Đà Lạt; nghiên cứu, hoàn thiện quy trình công nghệ và sản xuất thử nghiệm ngói lợp đất sét nung theo công nghệ tuynen; nghiên cứu sử dụng bentonit và diatomit Lâm Đồng phục vụ trong nông nghiệp và công nghiệp; nghiên cứu chế tạo vật liệu polyme giữ nước bằng kỹ thuật biến tính bức xạ gamma ứng dụng trên một số cây trồng vùng khô hạn.
Về chương trình đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
Tiếp tục nghiên cứu phát triển dịch vụ thương mại điện tử trong doanh nghiệp, các ngành du lịch, rau, hoa, chè... ; đẩy mạnh hoạt động phổ biến thông tin KHCN trên địa bàn huyện, thị, nhất là các vùng nông thôn cấp xã nhằm góp phần giúp người dân tiếp cận nguồn thông tin KHCN trong việc khai thác, chuyển đổi giống cây trồng - vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt trong phát triển kinh tế gia đình.
Nghiên cứu thành lập hệ thống tích hợp thông tin địa lý (GIS) phục vụ công tác quản lý đất đai và quản lý đô thị tại thành phố Đà Lạt, huyện Di Linh, thị xã Bảo Lộc đã phát huy hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý. Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, Trung tâm GIS của Đà Lạt được thành lập và phục vụ công tác quản lý đất đai và đô thị trên địa bàn thành phố, đang được triển khai, nhân rộng tại các huyện Đức Trọng và Lạc Dương.
Về chương trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội - nhân văn
Nghiên cứu những nhân tố chủ yếu để đột phá và tăng tốc nhằm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2006 - 2010; nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, đổi mới công tác vận động quần chúng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng.
Đánh giá hiệu quả việc thực hiện các chính sách đầu tư vào vùng dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng từ Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IV đến nay. Từ đó, xây dựng một số mô hình giảm nghèo theo hướng bền vững ở vùng dân tộc thiểu số phục vụ cho chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Nghiên cứu, phát huy mặt tích cực của luật tục trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số để xây dựng thôn buôn văn hóa; nghiên cứu tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối với đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng.
***
Tóm lại, trong 30 năm qua, hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KHCN đã bám sát định hướng chương trình KHCN đã được phê duyệt, nhờ đó kết quả của các nghiên cứu đạt được góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các địa phương một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Từ kết quả nghiên cứu của các đề tài, nhiều sản phẩm mới đã ra đời, góp phần đa dạng hóa mặt hàng phục vụ nội tiêu và xuất khẩu như sản phẩm rượu vang của Công ty Cổ phần Thực phẩm Lâm Đồng; sản phẩm trà hòa tan mát mát của Viện Vacxin Đà Lạt; hồng sấy khô của doanh nghiệp Dương Thảo...
Các đề tài nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi góp phần tăng năng suất cây trồng như: trồng cà chua theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, triển khai các mô hình trồng rau an toàn tại Đơn Dương và Đức Trọng, nghiên cứu về cây điều ghép tại 3 huyện phía Nam góp phần đưa năng suất trung bình từ 800 kg/ha đến 2 tấn/ha..., đề tài về điều tra đất nông nghiệp giúp UBND các huyện, phòng nông nghiệp quy hoạch và chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp; đề tài điều tra nước ngầm giúp các địa phương và cơ quan quản lý khai thác nguồn nước ngầm phục vụ nông nghiệp và sinh hoạt hiệu quả. Các đề tài thuộc nhóm xã hội - nhân văn đã giúp Tỉnh ủy, UBND tỉnh ra được các Nghị quyết chuyên đề về du lịch, thu hút vốn đầu tư…, làm cơ sở giúp các ngành trong công tác quy hoạch và xây dựng kế hoạch.
Trong thời gian tới, hoạt động quản lý khoa học cần chú trọng triển khai theo một số hướng như xây dựng quy hoạch phát triển KHCN tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015, tầm nhìn 2020; chuyển hướng quản lý đề tài, dự án cụ thể sang quản lý theo chương trình để tập trung nguồn lực giải quyết những mục tiêu chiến lược theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; xây dựng các quy định cụ thể nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng kết quả nghiên cứu giai đoạn sau nghiệm thu; tăng cường kinh phí cho việc chuyển giao quy trình công nghệ tiên tiến, nhân rộng mô hình phục vụ sản xuất và đời sống. Đồng thời, xây dựng quỹ phát triển KHCN của tỉnh; khuyến khích các ngành, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp KHCN trích lập, quản lý quỹ phát triển KHCN theo hướng đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động KHCN.
Và hơn hết là KHCN rất cần sự quan tâm và đầu tư của các ngành, các cấp từ việc đề xuất nhu cầu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đến việc áp dụng kết quả nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
VÕ THỊ HẢO
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng