Viện Sinh học Tây Nguyên là một đơn vị nghiên cứu khoa học trực thuộc Viện KHCN Việt Nam đóng trên địa bàn vùng Tây Nguyên. Tiền thân của Viện Sinh học Tây Nguyên là Trung tâm Nghiên cứu khoa học tại Đà Lạt được thành lập ngày 20/9/1978 theo Quyết định số 496/VKH-TCCB của Viện Khoa học Việt Nam và được đặt trong cơ cấu tổ chức của Phân viện Khoa học Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Qua nhiều lần thay đổi về tổ chức bộ máy và tên gọi, ngày 20/02/2008, Chủ tịch Viện KHCN Việt Nam ra Quyết định số 211/QĐ-KHCNVN tổ chức lại Viện Sinh học Tây Nguyên trực thuộc Viện KHCN Việt Nam.
Là một đơn vị nhỏ, duy nhất của Viện Khoa học Việt Nam ở vùng Tây Nguyên, Viện gặp nhiều biến động về phương hướng nghiên cứu do thay đổi về tổ chức cán bộ, cơ sở vật chất trang thiết bị nghèo nàn, lực lượng cán bộ khoa học quá thiếu (nhất là các nhà khoa học đầu đàn)… Tuy nhiên, trong 30 năm qua, Viện Sinh học Tây Nguyên đã chủ trì và tham gia trên 60 đề tài khoa học từ cấp cơ sở đến cấp nhà nước, đã có các đóng góp nhất định vào sự phát triển KHCN và kinh tế - xã hội ở địa phương Lâm Đồng nói riêng và cả nước nói chung. Các kết quả nghiên cứu nổi bật cụ thể là:
Trong 5 - 6 năm triển khai đề tài ứng dụng công nghệ cấy ghép hợp tử trong chăn nuôi trâu, bò, nhóm cán bộ tham gia đề tài đã vượt qua vô vàn khó khăn, gian khổ để tiến hành thí nghiệm tại các cơ sở chăn nuôi trâu, bò ở hai tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa. Kết quả là con bê hợp tử đầu tiên của Việt Nam đã ra đời tại Nông trường bò sữa Phi Vàng, tạo cơ sở để ngành nông nghiệp tiếp tục nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến này trong chăn nuôi trâu, bò và một số động vật khác ở nước ta.
Kế thừa các kết quả của chương trình khoa học kỹ thuật trọng điểm cấp nhà nước 48 C điều tra vùng Tây Nguyên, Viện đã triển khai thành công một số đề tài như thuần dưỡng nai ở Đà Lạt, qua đó khẳng định nai hoàn toàn thích ứng với điều kiện nuôi nhốt ở Đà Lạt, mở ra triển vọng phát triển nghề nuôi nai ở thành phố Đà Lạt và tỉnh Lâm Đồng để phục vụ du lịch.
Đề tài sử dụng vi khuẩn lactic để ủ chua thức ăn cho bò sữa đã khẳng định được hiệu quả kinh tế và giúp Nông trường bò sữa Phi Vàng giải quyết tình trạng thiếu thức ăn cho đàn bò sữa vào mùa khô trong nhiều năm liền.
Đề tài sử dụng nấm men để chế biến rượu vang trái cây đã xây dựng được quy trình và tiến hành sản xuất thử nghiệm các loại rượu vang dâu tằm, vang nho và vang hồng.
Đề tài ứng dụng các sản phẩm từ dầu thông và colophan đã hoàn thiện quy trình sản xuất terpinhydrat, terpineol, chất chống thấm bitum, dầu bóng…
Đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp một số chế phẩm từ dầu thông nhằm phục vụ các ngành công nghiệp hương liệu, dược và hóa chất.
Được sự phối hợp của Ban Khoa học Kỹ thuật tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Viện đã triển khai có kết quả đề tài trồng thử nghiệm cây Thanh hao hoa vàng ở vùng Tây Nguyên nhằm thăm dò khả năng phát triển giống cây này trên diện rộng để sản xuất thuốc chữa bệnh sốt rét. Đề tài này nằm trong chương trình khoa học nhà nước nghiên cứu toàn diện về cây Thanh hao hoa vàng do Bộ Y tế và Viện Khoa học Việt Nam đồng chủ trì. Chương trình này đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh trong khoa học kỹ thuật.
Đề tài xây dựng bộ sưu tập các loài lan Orchidaceae của tỉnh Lâm Đồng và vùng Tây Nguyên nằm trong phương hướng lâu dài là xây dựng ở Viện Sinh học Tây Nguyên một trung tâm nghiên cứu về lan của Việt Nam. Hiện nay, có gần 260 loài lan đang được lưu giữ tại Viện Sinh học Tây Nguyên. Trong đó, 185 loài đã được định tên khoa học, có 3 loài mới công bố và 37 loài đặc hữu quý hiếm của Việt Nam. Ngoài ra, đề tài cũng đã đi sâu nghiên cứu một số chi như Thanh đạm, Địa lan, Lan hài.
Viện đã xây dựng được vườn cây lá kim đặc hữu quý hiếm thuộc bộ thông của Lâm Đồng và Tây Nguyên gồm 12 loài, trong đó có nhiều loài đặc hữu quý hiếm như thông Năm lá, Bách xanh, Pơmu, Đỉnh tùng, Thông nàng, Thông đỏ…; xây dựng được vườn cây thuốc nam gồm 49 loài thuộc 29 họ khác nhau.
Đề tài bảo quản và phát triển nguồn gen thực vật quý hiếm đã lập được ngân hàng gen In vitro của 3 giống cây thuốc, 3 giống cây ăn củ và 59 giống cây hoa.
Đề tài nhánh cấp nhà nước nghiên cứu áp dụng công nghệ phôi vô tính, hạt nhân tạo trong nhân nhanh cây hoa Lyli và Hồng môn đã nghiệm thu đạt loại xuất sắc. Đề tài đã góp phần chủ động được nguồn giống, đáp ứng nhu cầu trồng hoa của người nông dân và giảm giá thành cây giống.
Đề tài kỹ thuật nuôi cấy lớp mỏng tế bào và hệ thống nuôi cấy Bioreactor trong nhân giống nhanh cây hoa Thu hải đường, nghiệm thu đạt loại xuất sắc, đã góp phần tạo ra cây giống với số lượng lớn trong thời gian ngắn.
Sản xuất thử nghiệm thành công chế phẩm Biological Mineral Water tại thành phố Đà Lạt và thử nghiệm có kết quả trong chăn nuôi và trồng trọt.
Đề tài nghiên cứu khu hệ vi sinh vật đất trồng trọt đã phân lập được một số chủng vi sinh vật từ đất trồng rau vùng Đà Lạt.
Đề tài sưu tầm bộ tiêu bản nấm lớn vùng Đà Lạt - Lâm Đồng đã sưu tầm và định tên trên 230 loài nấm lớn khác nhau, xây dựng được quy trình nuôi trồng một số loài nấm ăn như Pleurotus eryngii, Bunashimeji. Bộ sưu tầm này đang được lưu giữ tại Bảo tàng Sinh học của Viện Sinh học Tây Nguyên.
Đề tài nghiên cứu phát triển cây thông đỏ Taxus wallichiana ở Lâm Đồng làm nguyên liệu sản xuất thuốc chữa ung thư đã tiến hành phân lập các hợp chất có hoạt tính kháng ung thư, khảo sát sự biến động hàm lượng hai hợp chất chính là 10 - deacetylbaccatin III và 19 - hydroxybaccatin III trong lá cây Thông đỏ mọc tự nhiên và đã phân lập được một số chất có hoạt tính.
Ngoài ra, Viện đã tiến hành nghiên cứu chiết tách các hoạt chất sinh học của cây Dứa bà mép vàng, Sau sau, Cám lợn, Sen, Nghệ vàng, Náng hoa trắng, Thồm lồm gai, Nghễ ốm, Cỏ lào, một số loài thuộc chi Polygonum và một số loài thuộc họ Asteraceae thu hái ở Lâm Đồng. Trong đó có một số cây đặc hữu của vùng Lâm Đồng như cây Dứa bà mép vàng, Thông đỏ.
Đề tài xây dựng bộ tiêu bản xương các loài bò sát đã xây dựng được 43 mẫu lưỡng thê bò sát của 32 loài. Bộ tiêu bản xương này đang được lưu giữ tại Bảo tàng Sinh học của Viện Sinh học Tây Nguyên.
Đề tài nghiên cứu khả năng thích nghi của nhím trong điều kiện nuôi nhốt tại Đà Lạt cho thấy nhím hoàn toàn có khả năng nuôi nhốt tại Đà Lạt và là đối tượng động vật nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Ngoài những kết quả nêu trên, Viện còn có hơn 130 công trình nghiên cứu khoa học đăng trên các tạp chí trong và ngoài nước, trong đó có trên 40 công trình đăng trên các tạp chí quốc tế.
Tham gia đào tạo đại học và sau đại học cũng là một mảng hoạt động của đơn vị. Hàng năm, Viện đã tiếp nhận nhiều sinh viên từ các trường đại học trong và ngoài tỉnh đến tham quan, học tập, thực tập giáo trình, làm luận văn tốt nghiệp đại học, cao học. Công tác này cũng đã từng bước khẳng định sự trưởng thành của Viện Sinh học Tây Nguyên.
Hoạt động của Bảo tàng
Bộ phận Bảo tàng động vật Tây Nguyên được xây dựng và hình thành từ năm 1990. Ngày 18/4/2002, Viện Sinh học nhiệt đới ra Quyết định số 16/QĐ-SHNĐ thành lập phòng Bảo tàng.
Bảo tàng sinh học có khu trưng bày trong nhà với 7 phòng trưng bày và 6 phòng lưu trữ gồm 195 mẫu xương của 45 loài động vật, 386 mẫu thú của 58 loài, 245 mẫu chim của 95 loài, 43 mẫu lưỡng thê bò sát của 32 loài, hơn 300 mẫu của các loài côn trùng thuộc 10 bộ côn trùng. Trong 58 loài thú đã được định tên và trưng bày có 38 loài thuộc diện quý hiếm đã được công bố trong sách đỏ Việt Nam. Một số mẫu thú quý hiếm của Việt Nam duy nhất chỉ có ở đây như Cầy Giông sọc, Sóc bay sao, Hoẵng bạch tạng, Sóc đỏ quế, Báo lửa xám.
Khu trưng bày ngoài trời là vườn lan, vườn cây thuốc, vườn cây lá kim giới thiệu những loài thực vật quý hiếm vốn chỉ có ở Lâm Đồng và Tây Nguyên. Bộ sưu tập hơn 1.000 chậu địa lan trong và ngoài nước, khoảng 1.300 giò, chậu, bảng phong lan các loại, mỗi loại có những nét đặc trưng riêng cho từng khu vực vùng miền. Đây còn là nơi tạo giống và giữ gìn nguồn gen của gần 260 loài lan rừng, trong đó có nhiều loài đặc trưng đặc hữu cho vùng Lâm Đồng như các loài lan hài.
***
Tóm lại, trong 30 năm xây dựng và phát triển, Viện Sinh học Tây Nguyên đã từng bước trưởng thành. Những kết quả đạt được của Viện, đặc biệt là các kết quả trong những năm đầu của thập niên 90 từng là niềm tự hào của Viện Sinh học Tây Nguyên, được các đoàn khách trong và ngoài nước đến thăm đánh giá cao. Viện cũng đã thực hiện được trách nhiệm to lớn của mình là đóng góp vào sự phát triển chung của KHCN đất nước và trực tiếp góp phần vào sự phát triển của tỉnh Lâm Đồng.
Để đạt được những thành tựu này, Viện Sinh học Tây Nguyên đã được sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Viện KHCN Việt Nam, Viện Sinh học nhiệt đới, các Viện trong Viện KHCN Việt Nam, các trường đại học và cơ quan quản lý Trung ương, tỉnh Lâm Đồng và thành phố Đà Lạt. Những thành tựu này ghi nhận đóng góp của các thế hệ lãnh đạo và cán bộ công nhân viên của Viện Sinh học Tây Nguyên qua các thời kỳ.
TS. Lê Thị Châu
Viện trưởng Viện Sinh học Tây Nguyên