Sản xuất công nghiệp:
Thời kỳ 2001-2005, trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn về thị trường, ảnh hưởng của dịch Sars, giá cả nguyên liệu đầu vào biến động tăng làm tăng chi phí đầu vào các sản phẩm… nhưng ngành công nghiệp đã sắp xếp lại sản xuất, phát triển theo chiều sâu, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm từng bước nâng cao năng lực sản xuất và trình độ công nghệ. Sản xuất công nghiệp đã từng bước thay đổi, thích ứng dần với cơ chế quản lý mới đi vào thế phát triển ổn định. Để thích ứng với cơ chế mới, ngành công nghiệp đã tổ chức, sắp xếp lại mạng lưới doanh nghiệp nhà nước, quá trình sắp xếp lại gắn chặt với quá trình xây dựng mới, gắn xây dựng nhà máy chế biến với việc phát triển vùng nguyên liệu, lựa chọn những doanh nghiệp có điều kiện phát triển, đáp ứng nhu cầu thị trường để đầu tư mở rộng quy mô, đồng thời giải thể những doanh nghiệp quy mô nhỏ, làm ăn thua lỗ. Với phương châm đó, số lượng doanh nghiệp đã giảm xuống từ 26 doanh nghiệp năm 2001 xuống 22 doanh nghiệp năm 2005. Trong đó doanh nhiệp nhà nước địa phương quản lý từ 13 doanh nghiệp năm 2001 còn 11 doanh nghiệp năm 2005, giảm 2 doanh nghiệp (giảm 15,38%).
Tổng hợp chung về cơ sở và lao động sản xuất công nghiệp :
|
|
2001
|
2002
|
2003
|
2004
|
2005
|
|
1. Cơ sở sản xuất ( cơ sở )
|
6.455
|
5.754
|
6.330
|
6.154
|
6.364
|
|
- Doanh nghiệp nhà nước
|
26
|
27
|
25
|
24
|
22
|
|
Trung ương
|
13
|
13
|
12
|
13
|
11
|
|
Địa phương
|
13
|
14
|
13
|
11
|
11
|
|
- Ngoài nhà nước
|
6.414
|
5.711
|
6.283
|
6.103
|
6.312
|
|
2. Lao động ( người )
|
28.991
|
26.238
|
29.165
|
28.440
|
29.870
|
|
- Khu vực nhà nước
|
7.040
|
6.214
|
7.702
|
7.630
|
6.400
|
|
- Khu vực ngoài nhà nước
|
21.951
|
20.024
|
21.463
|
20.810
|
23.470
|
Khu vực công nghiệp ngoài nhà nước cũng đang trong quá trình đổi mới về tổ chức theo hướng đa dạng hoá về thành phần và tăng về số lượng (trừ thành phần kinh tế cá thể). Do được đầu tư cơ sở sản xuất phát triển, năng lực sản xuất tăng, thu hút lực lượng lao động xã hội tham gia vào sản xuất công nghiệp ngày càng tăng. Cụ thể, năm 2001 có 21.951 lao động đến năm 2005 có 23.470 lao động tham gia, tăng 1.519 lao động so năm 2001.
Do được tăng cường đầu tư, năng lực sản xuất tăng nhanh, đổi mới trang thiết bị và quy trình công nghệ mới, thay thế dần máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu. Kết hợp với đổi mới cơ chế quản lý đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp toàn tỉnh vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển.
Trong thời kỳ 2001-2005, gía trị sản xuất công nghiệp (CĐ 94) tăng bình quân 17,8% hàng năm, trong đó năm 2001 tăng 11,2%; 2002 tăng 7,03%; 2003 tăng 10,29%; 2004 tăng 19,88% và ước năm 2005 tăng 43,86%, tăng mạnh do tính bổ sung thêm giá trị điện của công ty Hàm Thuận-Đa Mi (theo Quyết định của Bộ Công nghiệp). Cả 3 ngành công nghiệp đều tăng, trong đó công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước tăng mạnh; bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005, ngành công nghiệp khai thác mỏ tăng 13,47%, ngành công nghiệp chế biến tăng 19,70% và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước tăng 49,54%.
Đối với kinh tế nhà nước, tuy số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm dần, song giá trị sản xuất công nghiệp bình quân thời kỳ 2001-2005 tăng 27,31%, trong đó doanh nghiệp nhà nước Trung ương quản lý tăng 42,92% và doanh nghiệp nhà nước địa phương quản lý tăng 4,6%. Năng lực sản xuất cũng tăng mạnh, nhất là các ngành công nghiệp chủ yếu ở địa phương, điển hình như chế biến hạt điều tăng từ 656 tấn năm 2000 lên 1.480 tấn năm 2005, tăng 125,61%; chế biến chè từ 5.782 tấn năm 2000 tăng lên 6.813 tấn năm 2005, tăng 17,83%; khai thác bauxite từ 16.200 tấn năm 2000 tăng lên 68.100 tấn năm 2005; sản xuất quần áo may sẵn từ 371 ngàn cái năm 2000 tăng lên 546 ngàn cái năm 2005, tăng 47,17%; sợi tơ tằm từ 121 tấn lên 512 tấn năm 2005, tăng 323,14%... Tổng nguồn vốn dùng vào sản xuất kinh doanh đến thời điểm 31/12/2005 là 2.762.919 triệu đồng, chiếm 71,9% tổng nguồn vốn các doanh nghiệp công nghiệp.
Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá CĐ 1994:
|
|
2001
|
2002
|
2003
|
2004
|
2005
|
|
1. Giá trị sản xuất (tr. đồng)
|
1.098.948
|
1.1176.233
|
1.297.305
|
1.555.156
|
2.237.324
|
|
- Công nghiệp khai thác mỏ
|
34.974
|
39.410
|
45.457
|
53.127
|
64.297
|
|
- Công nghiệp chế biến
|
996.997
|
1.070.634
|
1.179.046
|
1.428..218
|
1.683.504
|
|
- CN SX, PP điện, nước
|
66.977
|
66.189
|
72.802
|
73.811
|
489.523
|
|
2. Tốc độ phát triển (%)
|
111,20
|
107,03
|
110,29
|
119,88
|
143,86
|
|
3. Tốc độ PTBQ 2001-2005
|
117,80
|
|
- Công nghiệp khai thác
|
119,70
|
|
- Công nghiệp chế biến
|
113,47
|
|
- CN SX, PP điện, nước
|
149,54
|
Công nghiệp ngoài nhà nước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, chủng loại sản phẩm đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tỷ trọng giá trị công nghiệp ngoài nhà nước tuy có giảm dần từ 86,65% năm 2000 xuống còn 71,29% năm 2005 song vẫn chiếm tỷ lệ lớn (bình quân thời kỳ 2001-2005 chiếm 65,3%) trong tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp. Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài nhà nước (CĐ 1994) từ 671.360 triệu đồng năm 2000 tăng lên 1.208.228 triệu đồng năm 2005, bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 tăng 12,47%; trong đó kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh (tư nhân tăng bình quân 23,65%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 24,86%). Riêng kinh tế cá thể tăng chậm (tăng bình quân 0,23%) và kinh tế tập thể giảm mạnh (giảm 12,34% bình quân hàng năm).
Sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã phát triển đúng hướng, cụ thể là căn cứ vào khả năng về nguyên liệu sẵn có của địa phương để lựa chọn phương án đầu tư thích hợp, khai thác có hiệu quả tiềm năng về tài nguyên, khoáng sản vào phục vụ phát triển kinh tế địa phương. Phương án sản phẩm sản xuất tương đối phù hợp, được thị trường chấp nhận, chiếm lĩnh thị phần ngày càng được mở rộng. Điển hình là các sản phẩm như phân vi sinh, chè chế biến, cà phê chế biến, bauxite, lụa tơ tằm, sợi tơ tằm.., sản phẩm hàng hóa do công nghiệp sản xuất đa dạng về chủng loại, tăng về khối lượng và chất lượng. Bên cạnh các sản phẩm có trình độ kỹ thuật, có giá trị kinh tế hàng hoá cao, phục vụ cho sản xuất, xây dựng, ngành công nghiệp còn sản xuất nhiều loại sản phẩm phục vụ tiêu dùng khác như sản phẩm may mặc, chế biến lương thực, chế biến gỗ, lâm sản...góp phần khắc phục tình trạng mất cân đối về hàng hoá địa phương.
Vai trò công nghiệp, nhất là một số ngành công nghiệp có quy trình công nghệ, kỹ thuật cao đã thực sự có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Công nghiệp còn là đầu mối tạo nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy tăng trưởng GDP; phát triển công nghiệp đã góp phần quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu chung của nền kinh tế và của chính khu vực công nghiệp-xây dựng. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ 10,38% năm 2000 lên 16,83% năm 2005, góp phần nâng tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng từ 13,40% năm 2000 lên 18,70% năm 2005.
Kết quả sản xuất công nghiệp trong thời gian qua đã chứng minh: Đầu tư cho phát triển công nghiệp không những nâng cao năng lực của nền công nghiệp, tạo tiền đề cho quá trình phát triển của các ngành kinh tế khác, nhằm tăng nhanh khối lượng hàng hoá, nhất là các sản phẩm vật tư kỹ thuật, sản phẩm phục vụ xuất khẩu, góp phần tăng thu ngân sách, từng bước thực hiện chuyển cơ cấu kinh tế, tạo môi trường để đưa nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời sự phát triển công nghiệp đã tạo ra hàng vạn chỗ làm việc cho người lao động, không chỉ trong ngành công nghiệp mà còn ở các ngành kinh tế khác, trước hết là các ngành liên quan chặt chẽ đến sản xuất công nghiệp như sản xuất nông, lâm, thuỷ sản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thương mại làm chức năng bán hàng hoá cho công nghiệp .
Trong những năm qua, công tác quy hoạch, triển khai đền bù giải toả, thu hút vốn đầu tư để triển khai phát triển một số dự án lớn có tác động quyết định, đột phá đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh nói chung, ngành công nghiệp nói riêng được triển khai tích cực. Đến nay, đã triển khai quy hoạch xây dựng 12 cụm, điểm công nghiệp, quy hoạch 63 điểm thuỷ điện, thành lập và triển khai chương trình khuyến công, đầu tư hạ tầng và kêu gọi đầu tư vào 2 khu công nghiệp: Lộc Sơn và Phú Hội và các dự án thuỷ điện Đại Ninh, Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, tổ hợp bauxite Tân Rai… Hiện đã có 20 nhà đầu tư, đăng ký đầu tư (trong đó có 3 dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 202,28 tỷ đồng và 2 triệu USD vào khu công nghiệp Lộc Sơn. Riêng khu công nghiệp Phú Hội đã có 4 nhà đầu tư với tổng vốn đăng ký 59,9 tỷ đồng.