Trang thông tin điện tử tỉnh Lâm Đồng
English 
::Tổng quan .. Kinh tế .. Lâm nghiệp  

17 tháng ba 2010

TỔNG QUAN  TỔNG QUAN
TIN TỨC  TIN TỨC
TƯ LIỆU  TƯ LIỆU
THÔNG TIN KHÁC  THÔNG TIN KHÁC
TRANG THÀNH VIÊN  TRANG THÀNH VIÊN
 LÂM NGHIỆP

Tài nguyên rừng :

Tài nguyên rừng Lâm Đồng phong phú, đa dạng, với trên 618 ngàn ha rừng với tổng trữ lượng trên 61 triệu m3 gỗ và gần 662 triệu tấn tre, nứa. Rừng ở Lâm Đồng nhiều vùng còn nguyên sinh, ban sơ với nhiều thực, động vật, chủng loại đa dạng, đặc biệt của rừng Lâm Đồng là đặc dụng và phòng hộ. Nguồn tre, nứa, lồ ô khá dồi dào, trữ lượng lớn, tập trung ở các huyện phía Nam như Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Do mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, đất đai phù hợp nên các loài tre, nứa, lồ ô có  tố độ tái sinh rất nhanh sau khi khai thác. Diện tích tre, nứa có đủ khả năng đáp ứng cho yêu cầu chế biến khoảng 50.000 tấn bột giấy hàng năm. Rừng Lâm Đồng rất đa dạng về loại, có trên 400 loài cây gỗ, trong đó có 1 số loài gỗ quý như: pơmu xanh, cẩm lai, giỏ, sao, thông 2 lá, 3 lá, ngoài ra còn có nhiều loại lâm sản có giá trị khác.

Rừng Lâm Đồng phân bố ở thượng nguồn các sông, suối lớn của khu vực nên có vai trò quan trọng trong phòng hộ, du lịch nghiên cứu, tham quan... Diện tích đất có khả năng trồng rừng nguyên liệu khoảng 50.000-70.000 ha, thuận lợi cho ngành công nghiệp chế biến bột giấy, giấy. Đặc biệt trên địa bàn tỉnh có phần đất thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Cát Lộc và rừng quốc gia Cát Tiên, ở đây có trên 544 loại thực vật, 44 loài thú, gần 200 loài chim và có sự xuất hiện những động vật quý hiếm như loài Tê giác Zava.

Tình hình sản xuất lâm nghiệp qua 5 năm (2001-2005):

Sản xuất lâm nghiệp qua 5 năm đã từng bước chuyển dịch theo hướng giảm khai thác; tăng cường công tác lâm sinh, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng cho nhân dân, gắn với việc đưa đồng bào dân tộc tham gia vào làm nghề rừng để tạo cho họ ổn định cuộc sống, gắn bó thật sự với rừng tiến tới không còn nạn phá rừng làm nương, rẫy nhằm xây dựng vốn rừng, duy trì và bảo vệ tài nguyên .

rung.jpgHoạt động lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh trong 5 năm 2001-2005 đã có nhiều đổi mới về cơ chế tổ chức quản lý nhằm mục đích giữ rừng và phát triển vốn rừng, chuyển từ hoạt động lâm nghiệp truyền thống sang hoạt động lâm nghiệp xã hội. Sắp xếp lại các lâm trường và các ban quản lý rừng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các lâm trường, làm tốt vai trò nòng cốt trong sản xuất lâm nghiệp, thực hiện bảo vệ và phát triển rừng, tạo thêm việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo tại các địa phương trong tỉnh. Phát triển lâm nghiệp đã gắn với tạo việc làm cho hàng chục ngàn hộ nông dân, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân ở vùng xa, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc. Bằng các nguồn vốn và các hình thức đầu tư khác nhau như: vốn dự án 661, vốn đầu tư từ ngân sách tỉnh và vốn của các thành phần kinh tế đã đầu tư trồng rừng, khoanh nuôi rừng, giao khoán quản lý bảo vệ rừng, từng bước nâng cao độ che phủ của rừng trong toàn tỉnh.

Thực hiện chủ trương hạn chế khai thác, tách đơn vị  khai thác khỏi đơn vị quản lý bảo vệ rừng nên khối lượng khai thác gỗ rừng tự nhiên ngày càng giảm; giai đoạn 2001-2002 bình quân khoảng 30.000 m3/năm, giai đoạn 2004-2005 bình quân khoảng 15.000 m3/năm. Khối lượng gỗ rừng trồng khai thác ngày càng tăng (năm 2000 khoảng 4.000 m3/năm, năm 2005 khoảng 40.000 m3/năm). Sản lượng gỗ khai thác các loại xu hướng giảm dần, đặc biệt giảm mạnh từ năm 2003 đến nay. Sản lượng gỗ khai thác các loại giảm từ 79.788 m3 năm 2003 xuống còn 45.258 m3 năm 2005, giảm 34.530 m3; trong đó các đơn vị lâm nghiệp khai thác từ 63.220 m3 năm 2003 giảm xuống còn 35.046 m3 năm 2005, giảm 28.174 m3. Bình quân thời kỳ 2001-2005, sản lượng gỗ khai thác mỗi năm là 59.561 m3, mức khai thác gỗ bình quân hàng năm phù hợp với yêu cầu phát triển  tự nhiên về năng suất rừng và đủ đáp ứng yêu cầu địa phương, góp phần bảo tồn một khối lượng lớn diện tích rừng tự nhiên.

Công tác giao đất, giao rừng để quản lý bảo vệ có chuyển biến tích cực. Trong những năm qua, tỉnh đã đầu tư giao khoán quản lý bảo vệ rừng, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho đại bộ phận đồng bào dân tộc. Tính đến năm 2005 đã  thực hiện giao khoán bảo vệ rừng được 299 ngàn ha giao cho khoảng gần 12 ngàn hộ nhận khoán với mức thu nhập từ 1,2 đến 1,5 triệu đồng; trong đó có 9.405 hộ đồng bào dân tộc nhận khoán 230,717 ngàn ha. Trong tổng số diện tích rừng được giao khoán bảo vệ, nguồn vốn ngân sách tỉnh 168.285 ha; giao khoán bằng nguồn vốn dự án 5 triệu ha rừng 106.074 ha; giao khoán bằng chính sách hưởng lợi 10.444 ha.

Để khôi phục lại vốn rừng bị giảm sút, bằng nhiều nguồn vốn ngân sách cấp thông qua chương trình 327, chương trình 5 triệu ha rừng, vốn trồng rừng nguyên liệu giấy (liên doanh giữa các đơn vị chủ rừng với Công ty nguyên liệu giấy Đồng Nai), vốn dự án  IPDP, vốn các đơn vị và cá nhân… đã đầu tư thực hiện trồng rừng tập trung 5 năm 2001-2005 đạt 14.937 ha, bình quân mỗi năm trồng rừng đạt 2.987 ha. Trong đó chương trình 327(nay là 5 triệu ha rừng) đã trồng mới 2.458 ha rừng trồng tập trung.  

Nhờ kết qủa đầu tư từ nhiều nguồn vốn khác nhau với nhiều thành phần kinh tế tham gia trồng rừng, giao khoán quản lý bảo vệ rừng nên trong 5 năm 2001-2005 độ che phủ của rừng được nâng lên từ 63% năm 2000 lên 64% năm 2005.

ĐƠN VỊ PHỐI HỢP  ĐƠN VỊ PHỐI HỢP