Trang thông tin điện tử tỉnh Lâm Đồng
English 
::Tổng quan .. Kinh tế .. Nông nghiệp  

29 tháng bảy 2010

TỔNG QUAN  TỔNG QUAN
TIN TỨC  TIN TỨC
TƯ LIỆU  TƯ LIỆU
THÔNG TIN KHÁC  THÔNG TIN KHÁC
TRANG THÀNH VIÊN  TRANG THÀNH VIÊN
 SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

agriculture.jpgVới chủ trương phát triển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đưa nhanh các tiến bộ khoa học công nghệ mới vào sản xuất, đặc biệt là các giống mới, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến, tập trung thâm canh, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Phát triển và ổn định vùng nguyên liệu các loại cây công nghiệp dài ngày với trình độ thâm canh ngày càng cao, đồng thời chú trọng các loại cây lương thực, thực thẩm gắn với đẩy mạnh đầu tư thâm canh để không ngừng tăng năng suất, sản lượng cây trồng; phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến nhằm nâng cao chất lượng cà gía trị sản phẩm chăn nuôi. Hiện nay, trong phát triển kinh tế của tỉnh, nông nghiệp là một trong những ngành đạt được thành tựu lớn trong những năm đổi mới kinh tế nói chung và 5 năm 2001-2005 nói riêng.

Thời kỳ 5 năm 2001-2005, tuy gặp nhiều khó khăn về thiên tai hạn hán, lũ lụt và dịch cúm gia cầm bùng phát năm 2004, 2005; biến động bất lợi của thị trường tiêu thụ chè do ảnh hưởng của chiến tranh Irắq; giá một số sản phẩm nông sản, nhất là giá cà phê có những năm thấp hơn giá trị sản phẩm, cùng với giá vật tư phân bón liên tục tăng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất. Nhưng được sự quan tâm của các cấp, các ngành, nhiều chính sách đã được ban hành, nhiều dự án được triển khai thực hiện nên sản xuất nông nghiệp toàn tỉnh đạt được một số kết quả nhất định:

Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân mỗi năm thời kỳ 2001-2005, tăng 7,53%. Đây là tốc độ tăng khá cao vì sản xuất nông nghiệp có đối tượng là cây trồng, vật nuôi, phụ thuộc vào đất đai nên việc mở rộng quy mô diện tích là có giới hạn, mặt khác lại phụ thuộc lớn vào yếu tố thời tiết, khí hậu, giá cả, thị trường nên khó có bước phát triển đột biến được. Trên cơ sở phát huy thế mạnh cây công nghiệp dài ngày, đã hình thành những vùng chuyên canh tương đối tập trung về cây công nghiệp như cà phê, chè, vùng rau, hoa với quy mô lớn và chất lượng ngày càng được nâng lên làm cơ sở cho phát triển công nghiệp chế biến. Ngành nông nghiệp có mức tăng giá trị tăng thêm hàng năm 7,88%, đóng góp từ 60-69% GDP (giá SS 1994), là ngành thu hút lực lượng lao động khá lớn khoảng 63%. Sản xuất nông nghiệp trong những năm qua đã chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, chuyển đổi cơ cấu cây trồng có năng suất, chất lượng cao phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu của từng vùng. Hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích không ngừng tăng lên, qua kết qủa sơ kết chương trình 50 triệu đồng/ha/năm do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phát động, tính đến nay toàn tỉnh có trên 8.000 ha canh tác đạt doanh thu trên 50 triệu đồng/ha/năm. Thông qua đầu tư thâm canh, ứng dụng kỹ thuật công nghệ sinh học vào sản xuất đã nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích: vùng chuyên canh rau-hoa-dâu tây ở Đà Lạt-Lạc Dương có trên 100 mô hình trồng rau, hoa, dâu tây đạt doanh thu từ 50 triệu đồng trở lên, trong đó có trên 50% đạt doanh thu từ 150-480 triệu đồng/ha/năm; vùng chuyên canh chè chất lượng cao, tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện có 500 ha chè đạt doanh thu từ 150-180 triệu đồng/ha, cá biệt có doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đạt 2-3 tỷ đồng/ha/năm. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi gắn với phát triển tổng hợp các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng về đất đai, vốn, lao động và kinh nghiệm sản xuất. Đã xuất hiện nhiều mô hình sản xuất mới và có hiệu quả kinh tế-xã hội trong nông nghiệp như  kinh tế trang trại, kinh tế vườn rừng, vườn đồi, nông - lâm kết hợp... với nhiều thành phần tham gia, kể cả đồng bào dân tộc.  Tổng số trang trại trên địa bàn tỉnh tăng mạnh trong thời kỳ 2001-2005, từ 716 trang trại năm 2000 tăng lên 1.978 trang trại năm 2005, gấp 2,76 lần so năm 2000. Đến năm 2005, các trang trại đã sử dụng tổng số vốn 455.128 triệu đồng và 8.389 ha đất để sản xuất kinh doanh tạo ra 392.339 triệu đồng giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ. Thu nhập bình quân một trang trại trong năm 2005 đạt trên 148 tỷ đồng, gấp 3,47 lần so năm 2000, bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 thu nhập một trang trại tăng  28,27%.

* Trồng trọt:

Quy mô diện tích gieo trồng đối với cây hàng năm xu hướng tăng lên qua các năm do điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, đẩy mạnh khai hoang, phục hóa trên diện tích có khả năng nông nghiệp chưa sử dụng và tăng vụ, trồng xen, trồng gối. Đến năm 2005, diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 97.134 ha, tăng 19.550 ha so năm 2000, quy mô diện tích cây hàng năm tăng liên tục trong 5 năm với mức tăng bình quân mỗi năm 4,6%. Diện tích cây thực phẩm tăng nhanh từ 21.816 ha năm 2000, tăng lên 32.719 ha năm 2005, bình quân hàng năm tăng 8,4%; trong đó cây rau các loại và cây hoa tăng nhanh, diện tích rau từ 18.879 ha năm 2000 tăng lên 29.378 ha ( tăng 10.499 ha) và cây hoa từ 962 ha năm 2000 tăng lên 2.270 ha (tăng 1.308 ha). Riêng diện tích gieo trồng cây lương thực ổn định ở mức 50.000 đến 51.000 ha trong 5 năm .

Đối với cây lâu năm, khác với thời kỳ 1996-2000, diện tích gieo trồng luôn luôn biến động theo chiều hướng ngày càng tăng do hiệu qủa sản xuất cao và giá trị mang lại lớn như cây cà phê, chè, điều... Nhưng thời kỳ 2001-2005, thực hiện chủ trương của Chính phủ điều chỉnh kịp thời các chỉ tiêu định lượng đến năm 2010, theo đó không mở rộng diện tích những cây trồng kém hiệu quả do cung đã vượt cầu như cà phê, hạt tiêu… đồng thời  thực hiện chủ trương của tỉnh tập trung thâm canh các cây trồng dài ngày hiện có trên địa bàn tỉnh nên  diện tích gieo trồng cây lâu năm tương đối ổn định ở mức 165 đến 170 ngàn ha. Tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm năm 2005 đạt 171.254 ha, tăng 7.093 ha, chủ yếu do tăng diện tích cây ăn qủa còn diện tích cây công nghiệp dài ngày tăng không đáng kể (2005 tăng 47 ha so 2000). Sự biến động diện tích gieo trồng một số loại cây công nghiệp dài ngày như sau:

- Cây cà phê phát triển chậm lại và xu hướng giảm dần do giá cà phê không ổn định, đặc biệt năm 2001, 2002 giá cà phê chỉ còn 6-8 ngàn đồng/kg, thấp hơn chi phí đầu tư. Diện tích từ 124.359 ha năm 2000, xuống còn 117.538 ha năm 2005, giảm 6.821 ha.

- Diện tích cây chè tăng chậm và ổn định trong những năm gần đây. Năm 2000 diện tích 21.616 ha, đến năm 2005 diện tích đạt 25.535 ha, tăng 3.919 ha.

- Cây dâu tằm, cây điều diện tích xu hướng tăng lên do giá cả ổn định ở mức cao có lợi cho người sản xuất. Năm 2005, diện tích dâu tằm tăng 2.743 ha và diện tích điều tăng 2.764 ha so năm 2000.

Diện tích gieo trồng qua các năm :  

 

2001

2002

2003

2004

2005

Tổng diện tích ( ha)

248.620

254.366

259.019

262.243

268.388

1 . Cây hàng năm 

81.557

88.681

91.723

93.884

97.134

Trong đó:

         

- Cây lương thực 

50.166

54.572

56.392

56.421

56.923

- Cây thực phẩm

25.159

27.611

29.535

30.778

32.719

2 . Cây lâu năm

167.063

165.685

167.296

168.359

171.254

Cùng với việc ổn định, tăng diện tích cây trồng, sản lượng các loại cây trồng chủ yếu trong thời kỳ 2001-2005, cũng tăng lên cả về số lượng chủng loại cũng như chất lượng sản phẩm. Cụ thể sản lượng một số  cây trồng chủ yếu như sau :

Sản lượng lương thực: Do tác động của khoa học kỹ thuật như giống cây trồng, đầu tư thâm canh, điều hoà nước tưới tiêu, phòng trừ dịch bệnh nên năng suất cây lương thực nhất là cây lúa tăng lên rõ rệt.  Năng suất lúa toàn tỉnh từ 31,07 tạ/ha năm 2000, tăng lên 39,21 tạ/ha năm 2004 và 38,37 tạ/ha ước năm 2005. Sản lượng lương thực có hạt tiếp tục tăng một cách ổn định chủ yếu do tăng năng suất cây trồng và đưa các giống mới vào sản xuất đại trà; tỷ lệ giống lúa mới và lúa cao sản hàng năm chiếm trên 50% diện tích và giống ngô lai chiếm khoảng 90% diện tích gieo trồng. Sản lượng lương thực có hạt năm 2005 đạt 215.877 tấn, tăng 38,33% so năm 2000, bình quân mỗi năm thời kỳ 2001-2005 tăng 6,7%; trong đó sản lượng lúa tăng từ  102.055 tấn năm 2000  lên 129.721 tấn, tăng bình quân 4,9%/năm và sản lượng ngô từ 54.005 tấn năm 2000 tăng lên 86.156 tấn năm 2005, tăng bình quân 9,8% hàng năm. Sản lượng lương thực tăng, đã khắc phục được tình trạng thiếu ăn trong dân cư, khắc phục dần tình trạng đói giáp hạt, ổn định đời sống xã hội .

Sản lượng các loại nông sản hàng hóa tiếp tục tăng, nhất là các loại cây có giá trị kinh tế như  cây cà phê, chè và cây rau và hoa. Sản lượng cà phê năm 2005 ước đạt 211.804 tấn, tăng trên 26,6% so năm 2000, bình quân hàng năm tăng 4,8%; tuy nhiên  mức tăng không ổn định qua các năm do sản lượng cà phê chịu ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết, giá cả; cá biệt năm 2002 sản lượng cà phê giảm gần 38% so năm 2001 (giảm 67.576 tấn) do hạn hán.

Cây chè, tuy diện tích tăng chậm nhưng tương đối ổn định trong những năm gần đây, song sản lượng tăng bình quân hàng năm đạt 5,3%, từ  125.7179 tấn năm 2000, lên 161.938 tấn năm 2005.

Ngoài 2 loại cây có quy mô lớn như cà phê, chè, một số cây trồng có giá trị kinh tế cao đang tiếp tục ổn định và phát triển như dâu tằm, điều, hồ tiêu. Sản lượng dâu tằm năm 2005 đạt 48.964 tấn, gấp hơn 2 lần so năm 2000, bình quân hàng năm tăng 15,22%; sản lượng điều năm 2005 đạt 4.833 tấn, gấp 4,9 lần so năm 2000, bình quân hàng năm tăng 37,3%.

Sản lượng cây rau: giá cả một số chủng loại rau, nhất là các loại rau thương phẩm trong những năm gần đây ổn định và tăng cao nên  cây rau có xu hướng phát triển  mạnh cả về quy mô diện tích cũng như sản lượng với những chủng loại mang tính phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng như : Sú, lơ, cải thảo, cà rốt, khoai tây, sà lách, cà chua... Đến năm 2005, diện tích rau đạt 29.378 ha, tăng 55,61% so năm 2000,  sản lượng  rau thương phẩm tăng nhanh, đạt 748.111 tấn năm 2005, tăng bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 là 11,59%. Ngoài các giống rau truyền thống, đã đưa vào nhiều chủng loại rau cao cấp, có giá trị kinh tế cao nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; sản lượng rau an toàn ngày càng tăng để cung cấp cho một số thị trường cao cấp ổn định ở trong nước.

* Chăn nuôi:

Song song với trồng trọt, chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm cũng giữ mức ổn định, một số loại tăng mạnh và chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp như đàn bò sữa, đàn heo. Trong chăn nuôi, đàn trâu tăng chậm do diện tích chăn thả bị thu hẹp và việc thay thế dần sức kéo bằng máy móc cơ giới. Theo kết qủa điều tra 1/10 hàng năm, đàn trâu năm 2005 có 17.756 con, tăng 245 con so năm 2000.

Đàn bò tăng mạnh từ 57.402 con năm 2000 tăng lên 93.012 con năm 2005, bình quân mỗi năm tăng  10,13% . Việc cơ giới hoá trong nông nghiệp cũng làm giảm bò cày kéo, nhưng nuôi bò lấy thịt và bò lấy sữa phát triển mạnh trong những năm gần đây để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Đàn bò sữa trong 2 năm gần đây tăng mạnh do thực hiện chủ  trương phát triển bò sữa bằng các chương trình hỗ trợ nông dân mua con giống, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm thông qua thoả thuận với Công ty sữa Việt Nam để ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm sữa tươi cho nông dân với giá từ 2.500 đồng/lít. Đến năm 2005, đàn bò sữa có 3.260 con, tăng 57% so năm 2004.

Đàn heo phát triển ổn định, tăng đều qua các năm thời kỳ 2001-2005 do tình hình giá cả heo hơi trong các năm qua tương đối cao, trong lúc nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm từ gia cầm giảm do dịch cúm gia cầm bùng phát nên nông dân chú trọng đầu tư chăn nuôi heo; mặt khác các mô hình kinh tế trang trại ngày càng phát triển góp phần thúc đẩy sản xuất trong đó có chăn nuôi. Đàn heo phát triển theo hướng heo siêu nạc, giống heo tốt có tỷ lệ nạc cao chiếm từ 30-40% trên tổng đàn. Tổng đàn heo năm 2005 ước đạt 339.855 con tăng 70,77% với 140.837 con so năm 2000, tốc độ tăng bình quân trong 5 năm đạt 11,3%.

Đàn gia súc, gia cầm trong 3 năm đầu thời kỳ 2001-2005 phát triển mạnh từ  1.569 ngàn con tăng lên 2.949 ngàn con năm 2003. Song trong 2 năm 2004, 2005 do xảy ra dịch cúm gia cầm H5N1 ở nhiều nước trên thế giới và nhiều tỉnh trong nước; tuy Lâm Đồng là địa phương chỉ xảy ra dịch cúm gia cầm cục bộ ở một số địa bàn nhưng do tâm lý tiêu dùng nên các sản phẩm từ gia cầm tiêu thụ chậm, thậm chí có thời điểm không tiêu thụ được ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sống các hộ chăn nuôi gia cầm, vì vậy tổng đàn gia cầm giảm mạnh so năm 2003. Đến năm 2005, đàn gia cầm còn 1.819,8 ngàn con, giảm 1.129,2 ngàn con so năm 2003, giảm 110,6 ngàn con so năm 2004.  

* Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp:

Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh về định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi giai đoạn 2002-2005. Trong 4 năm qua cơ cấu cây trồng từng bước được chuyển đổi, trên cơ sở khai thác sử dụng hợp lý quỹ đất hiện có, thông qua phân tích đặc điểm đất đai, khí hậu, thời tiết vùng sinh thái để xác định cây trồng vật nuôi thích hợp cho từng vùng, lập quy hoạch phát triển tập trung, chuyên môn hóa sản xuất. Theo hướng đó, trong thời gian qua, quy hoạch sản xuất nông nghiệp được hình thành tương đối đồng bộ, phù hợp với đặc điểm tự nhiên từng địa phương trong tỉnh. Đến nay tỉnh đã xác định nhóm cây trồng chủ yếu và hình thành các vùng cây công nghiệp, cây lương thực và cây thực phẩm. Đối với cây hàng năm, điều chỉnh chuyển dần một số diện tích cây lương thực năng suất thấp sang cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Đối với cây lâu năm, ưu tiên phát triển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, chè, điều. dâu tằm .. trên cơ sở ổn định diện tích hiện có các loại cây để đầu tư thâm canh kết hợp khai thác diện tích đất trống, vùng gò đồi trồng cây lâu năm, xây dựng các vùng chuyên canh cây công nghiệp tập trung chủ yếu.

Từ năm 2002-2004, tổng diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng là 18.244 ha, trong đó chuyển diện tích cà phê là 11.849 ha, chuyển một số cây trồng khác kém hiệu qủa là 6.395 ha sang trồng chè, điều, rau hoa, cây ăn quả, hỗ trợ mua bò đực giống Zê bu là 100 con. Tổng vốn nhà nước đầu tư cho chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi là 23.097 triệu đồng. Riêng năm 2005 kế hoạch hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi là 6.408 triệu đồng, gồm hỗ trợ chuyển đổi giống chè 105 ha, giống cà phê 110 ha, giống dâu tây 1 ha, giống dâu tằm 105 ha, giống điều ghép 160 ha, giống cây ăn qủa 150 triệu đồng, giống lúa cao sản 40 tấn, giống cây bơ ghép 2000 cây, giống cá tôm 167 triệu trứng giống tằm 500 hộp, bò đực lai sind, Zê bu 70 con, nhập cây giống mới 174 triệu đồng. Trợ giá thuộc chương trình hàng chính sách miền núi 2.908 triệu đồng, hỗ trợ chương trình thuỷ sản chăn nuôi 1.000 triệu đồng. Đến nay, hầu hết các chương trình đã hoàn thành khâu thủ tục về hồ sơ thiết kế dự toán, đã và đang triển khai thực hiện.

Tỷ trọng cơ cấu cây trồng qua các năm như sau :  

 

2001

2002

2003

2004

2005

Cơ cấu ( %)

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

1 . Cây hàng năm 

32,80

34,86

35,41

35,80

36,19

  Tỷ trọng chiếm trong cây

 

 

 

 

 

Hàng năm:

 

 

 

 

 

- Cây lương thực 

61,51

61,54

61,48

60,10

58,52

- Cây thực phẩm

30,85

31,14

32,20

32,78

33,76

2 . Cây lâu năm

67,20

65,14

64,59

64,20

63,81

Trong 5 năm 2001-2005, cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng ổn định, đầu tư thâm canh diện tích cây lâu năm và tăng diện tích cây hàng năm. Tỷ trọng diện tích cây lâu năm từ 67,2% năm 2001, giảm xuống từ 65,14% năm 2002, 64,59% năm 2003, 64,2% năm 2004 xuống còn 63,81% năm 2005; tỷ trọng cây hàng năm tăng từ 32,8% năm 2001, lên 36,19% năm 2005. Trong cây hàng năm, cơ cấu cây trồng chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng diện tích cây thực phẩm và giảm tỷ trọng diện tích cây lương thực. 

Đi đôi với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đồng thời đã từng bước chuyển đổi cơ cấu mùa vụ. Một số diện tích gieo trồng cây lương thực, thực phẩm ở các vùng trũng, vùng thường bị ngập úng do ảnh hưởng của thiên tai đã chuyển đổi gieo trồng các loại cây trồng khác. Cơ cấu mùa vụ gieo trồng cây lương thực nói chung và cây lúa nói riêng cũng được thay đổi phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên và thời tiết từng vùng, từng địa phương. Sự thay đổi mùa vụ đã tạo điều kiện mở rộng diện tích gieo trồng, hạn chế sâu bệnh và phòng chống thiên tai, là một trong những nhân tố góp phần làm tăng năng suất cây trồng.

Do tác động của cơ sở vật chất kỹ thuật, chọn bước đi thích hợp đã tạo cơ sở vững chắc cho sản xuất nông nghiệp giữ ổn định và phát triển mạnh. Cơ cấu sản xuất cũng được bố trí, điều chỉnh dần phù hợp với điều kiện đất đai, tập quán canh tác từng vùng và phát triển của trình độ sản xuất, khai thác có hiệu quả hơn tài nguyên nông nghiệp, cụ thể  cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi, giữa lương thực và nông sản hàng hoá, làm cho sản phẩm nông nghiệp ngày càng phong phú, đa dạng, đạt giá trị cao.  Trong 5 năm 2001-2005, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ. Tỷ trọng ngành trồng trọt trong giá trị sản xuất nông nghiệp từ 83,48% năm 2001 giảm xuống còn 80,19% năm 2005, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên từ 14,63% năm 2000 đến 17,53% năm 2005 và hoạt động dịch vụ nông nghiệp từ 1,89% năm 2001 tăng lên 2,28% năm 2005.

Bảng số liệu về cơ cấu giá trị sản xuất ngành  nông nghiệp :  

 

2001

2002

2003

2004

2005

Cơ cấu nội bộ ngành NN  ( %)

 

 

 

 

 

Tổng số

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

1 . Trồng trọt 

83,48

81,85

83,02

80,79

80,19

2 . Chăn nuôi 

14,63

16,09

14,99

17,14

17,53

3 .  Dịch vụ 

1,89

2,06

1,99

2,06

2,28

Các thông số về tốc độ tăng trưởng và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp qua các năm thể hiện nông nghiệp vừa phát huy thế mạnh về cây công nghiệp dài ngày (trồng trọt) vừa  phát triển toàn diện cả về chăn nuôi. Tỷ trọng của 2 ngành này trong thời kỳ vừa qua luôn ở mức cân đối với tỷ số: Trồng trọt 80-84%, chăn nuôi 14-18%. Trong trồng trọt, tập trung vào các nhóm cây trồng chính: Cây công nghiệp tập trung ở cây cà phê, cây chè, cây dâu tằm, điều; cây lương thực chủ yếu là cây lúa; cây thực phẩm tập trung vào rau, đậu các loại và các loại hoa.

* Công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp:

Công tác đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi 5 năm qua đã được quan tâm đầu tư của Trung ương, Bộ Nông nghiệp & PTNT, UBND tỉnh và các thành phần kinh tế do vậy số công trình được đầu tư xây dựng khởi công mới, tu sửa nâng cấp nhiều hơn so với 5 năm trước. Chương trình thực hiện kiên cố hoá kênh mương đạt hiệu quả cao với 29 công trình, tổng chiều dài kênh mương kiên cố hóa là 190,386 km. Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 263 công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ có năng lực tưới theo thiết kế là 26.618 ha cây trồng các loại. Năng lực tưới thực tế các công trình nâng lên rõ rệt so với năng lực thiết kế, đến năm 2005, tổng diện tích các loại cây trồng được tưới 64.000 ha, trong đó lúa đông xuân 10.000 ha, lúa hè thu sớm 5.500 ha, lúa mùa 18.900 ha, cây công nghiệp và cây ăn qủa 22.600 ha và rau hoa 7.000 ha.

ĐƠN VỊ PHỐI HỢP  ĐƠN VỊ PHỐI HỢP