* Hoạt động nội thương:
Hoạt động thương mại - dịch vụ thời kỳ 2001-2005 đã tiếp cận và hoà nhập với kinh tế thị trường, đảm bảo cung cấp cơ bản hàng hoá, dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống. Hàng hoá trên thị trường phong phú, đa dạng, việc mua bán thuận lợi, đáp ứng khá tốt nhu cầu xã hội các tầng lớp dân cư trong tỉnh. Mạng lưới kinh doanh thương mại phát triển nhanh, đa dạng về ngành nghề bao gồm cả thương nghiệp, nhà hàng ăn uống, dịch vụ phục vụ và du lịch. Do đó đã mở rộng mạng lưới kinh doanh phục vụ xuống tận cơ sở, địa bàn khu dân cư, tạo thành mạng trung gian kinh tế, làm chức năng giao lưu, trao đổi hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ .
Đến năm 2005, số lượng cơ sở kinh doanh thương mại- dịch vụ có 30.644 cơ sở, tăng 11.862 cơ sở so năm 2000; trong đó cơ sở kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng lớn (chiếm 97,9% năm 2005), còn các thành phần kinh tế khác chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng các cơ sở kinh doanh thương mại- dịch vụ toàn tỉnh. Hoạt động thương mại-dịch vụ đã thu hút số người tham gia kinh doanh ngày càng đông với số lượng 47.852 người năm 2005, tăng 23.450 người (96,1%) so năm 2000.
Cùng với việc phát triển về thành phần kinh doanh, hạ tầng cơ sở cũng được đầu tư phát triển, điển hình là hệ thống chợ. Một số chợ được quy hoạch, đầu tư nâng cấp, sửa chữa với quy mô lớn trở thành trung tâm thương mại của tỉnh như chợ Đà Lạt, chợ B’ Lao (Bảo Lộc), chợ Tùng Nghĩa (Đức Trọng). Các trung tâm thương mại tỉnh đã trở thành nơi cung ứng hàng hoá cho vùng lân cận, nơi trung chuyển trao đổi hàng hoá cho các chợ nông thôn .
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân hàng năm 22%; trong đó kinh tế nhà nước tăng 13,49% (nhà nước trung ương tăng 16,77% và nhà nước địa phương tăng 9,15%), kinh tế ngoài nhà nước tăng 27,35% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,05%. Đến năm 2005 tổng mức bán lẻ đạt 5.861,56 tỷ đồng, tăng 170,09% so năm 2000. Tốc độ tăng tổng mức bán lẻ qua các năm: 2001 tăng 0,56%, 2002 tăng 14,07%, 2003 tăng 21,33%, 2004 tăng 40,60% và ước năm 2005 tăng 38,02%. Mức bán lẻ bình quân đầu người/năm cũng tăng lên đáng kể, từ 2,1 triệu đồng năm 2000 lên 5,07 triệu đồng năm 2005. Thương nghiệp nhà nước chủ yếu nắm giữ khâu bán buôn và một phần bán lẻ. Thương nghiệp tư nhân, cá thể có lực lượng đông đảo nên giữ vai trò lớn trong khâu bán lẻ. Trong tổng mức bán lẻ thì kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng nhỏ (từ 9-10%), kinh tế ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn ( từ 76-90%).
Tỷ trọng các thành phần kinh tế trong tổng mức bán lẻ như sau :
|
|
Tổng
|
Chia ra
|
|
Năm
|
Số
|
Kinh tế
|
Kinh tế ngoài
|
Kinh tế có vốn
|
|
|
|
Nhà nước
|
quốc doanh
|
đầu tư nước ngoài
|
|
2001
|
100
|
10,44
|
88,41
|
1,15
|
|
2002
|
100
|
11,85
|
86,99
|
1,16
|
|
2003
|
100
|
10,59
|
88,34
|
1,07
|
|
2004
|
100
|
10,87
|
76,73
|
12,40
|
|
2005
|
100
|
9,44
|
89,25
|
1,31
|
Cùng với phát triển thương nghiệp ở thành phố, thị xã và các thị trấn, mạng lưới thương nghiệp tiếp tục phát triển đến các vùng sâu, vùng xa góp phần thúc đẩy giao lưu hàng hoá, đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân ở vùng này.
Thời kỳ 2001-2005 hoạt động kinh doanh du lịch có bước phát triển mạnh. Các điểm danh lam được quy hoạch, tôn tạo, nâng cấp; các khu vui chơi giải trí được xây dựng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách. Nhiều khu du lịch mới đã được các nhà đầu tư trong và ngoài nước triển khai xây dựng, tạo thêm một số sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách. Các khu du lịch trọng điểm thu hút được nhiều dự án đầu tư lớn là cơ sở để phát triển ngành du lịch trong những năm tiếp theo. Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ tăng nhanh, có sức chứa tổng cộng khoảng 30.000 khách, chất lượng kinh doanh được nâng lên đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên của du khách trong và ngoài nước. Vì vậy lượt khách đến Lâm Đồng tăng bình quân hàng năm 8,22%, năm 2000 có 725.000 lượt khách (qua lưu trú) đến tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng tăng lên 1.075.933 lượt khách năm 2005. Trong đó khách quốc tế năm 2005 có 100.000 lượt khách so với năm 2000 là 71.000 lượt, tăng bình quân hàng năm 7,09%; khách trong nước từ 654.000 lượt khách năm 2000 tăng lên 975.933 lượt năm 2005, tăng bình quân hàng năm 8,33%. Tổng ngày khách lưu trú trên địa bàn Lâm Đồng năm 2005 là 2.075.792 ngày so với 1.305.000 ngày năm 2000, tăng bình quân 9,73%. Số ngày khách lưu trú bình quân 1 du khách đến Lâm Đồng có xu hướng tăng lên, từ 1,8 ngày năm 2000 tăng lên 1,93 ngày năm 2005 kéo theo hệ số sử dụng buồng, giường của các cơ sở lưu trú tăng lên.
* Hoạt động ngoại thương:
Hoạt động ngoại thương trong những năm qua tuy gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng chiến tranh Iraq, của dịch Sars, dịch cúm gia cầm và tình hình giá cả thị trường thế giới biến động lớn nhưng các doanh nghiệp kinh doanh xuất, nhập khẩu trên địa bàn Lâm Đồng đã nỗ lực tìm kiếm, mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm …nên đã đạt nhiều kết quả nhất định.
Tổng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 2001-2005, đạt 390,716 triệu USD, tăng bình quân hàng năm 21,28%. Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2005 đạt 130,68 triệu USD, tăng 162,39% so năm 2000. Mặt hàng xuất khẩu đã qua chế biến đều tăng, chiếm trên 80% sản phẩm xuất khẩu. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh như cà phê, chè, điều, rau, hoa, tơ tằm … tăng khá, đặc biệt kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh trong 3 năm 2003-2005 do một số doanh nghiệp nước ngoài tham gia xuất khẩu như công ty Atlantic, công ty TNHH Phú Cường. Sản lượng cà phê năm 2005 xuất được 48.617,8 tấn, tăng 41.693,8 tấn so năm 2000; sản lượng chè năm 2005 xuất 9.538,1 tấn, tăng 7.887,1 tấn so 2000; mặt hàng rau qủa năm 2005 xuất đạt 12.281,2 tấn, tăng mạnh do những năm trước chỉ xuất vài trăm tấn trong năm; hạt điều chế biến năm 2005 xuất khẩu tăng 8.432,5 tấn so năm 2000 và hoa các loại xuất được 8.179,6 ngàn USD, tăng 2.430,6 ngàn USD so năm 2000.
Song song với xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu thời kỳ 2001-2005, cũng tăng nhanh từ 18.333 ngàn USD tăng lên 37.393,1 ngàn USD. Kim ngạch nhập khẩu chủ yếu là nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất và máy móc, thiết bị để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
