Trong 5 năm qua (2001-2005), sự nghiệp giáo dục của tỉnh đã có những chuyển biến đáng kể. Mạng lưới trường, lớp được duy trì và phát triển với hình thức đa dạng, rộng khắp trên toàn tỉnh. Quy mô giáo dục không ngừng tăng lên và đang được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế, khắc phục tình trạng mất cân đối về cơ cấu lớp học, bậc học. Đội ngũ giáo viên tiếp tục được tăng cường theo hướng chuẩn hóa. Cơ sở vật chất kỹ thuật tuy còn nhiều khó khăn nhưng cũng đã được củng cố và nâng cấp. Hiện nay, Lâm Đồng đã có một hệ thống giáo dục tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng, được hình thành các cấp học và trình độ từ mầm non đến đại học. Hệ thống giáo dục đang từng bước được xã hội hóa đa dạng về loại hình, phương thức và huy động nguồn lực cho phát triển giáo dục. Nền giáo dục ở Lâm Đồng cơ bản đáp ứng được mục tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài góp phần đắc lực để phát triển kinh tế-xã hội và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hoá tỉnh nhà.
* Quy mô giáo dục:
Giáo dục mầm non: Trong những năm thời kỳ 2001-2005, các địa phương trong tỉnh đã tích cực vận động gia đình đưa trẻ đến lớp. Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 48.607 trẻ đi học mầm non, tăng 21,79% so với năm học 2000-2001, tăng bình quân mỗi năm khoảng 4,02%. Tuy nhiên, mức độ tăng không đồng đều giữa các năm học, từ năm học 2000-2001 đến năm học 2003-2004 tăng không đáng kể, riêng năm học 2004-2005 tăng mạnh ( tăng 13,25%) so năm học 2003-2004. Hiện nay các loại hình nhà trẻ và mẫu giáo ngoài công lập phát triển mạnh và hầu hết các địa phương số trẻ em đi nhà trẻ và mẫu giáo đã tăng so với các năm học trước.
Giáo dục phổ thông: Quy mô học sinh tiểu học tiếp tục giảm, tiến dần đến ổn định do thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình nên độ tuổi dân số trong độ tuổi 6-10 tuổi giảm dần trong những năm gần đây (trong 5 năm qua đã giảm 2,5%). Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 127.739 học sinh tiểu học, giảm 14,77% so với năm học 2000-2001 (giảm 22.144 học sinh), giảm bình quân 3,15% mỗi năm .
Số học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thổng tăng khá nhanh trong những năm gần đây do ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh phối hợp với các địa phương tập trung chỉ đạo để hoàn thành phổ cập trung học cơ sở vào năm 2007. Năm học 2005-2006 có 99.203 học sinh trung học cơ sở, tăng 27,26% so với năm học 2000-2001 ( tăng 21.248 học sinh), mức tăng bình quân hàng năm đạt 4,94%. Sè học sinh trung học phổ thông lµ 44.538 häc sinh, tăng 63,27% so với năm học 2000-2001 (tăng 17.260 học sinh), tăng bình quân hàng năm 10,3%.
* Mạng lưới trường lớp:
Mạng lưới trường tiếp tục được củng cố và phát triển. Hầu hết các địa phương trong tỉnh đều đã có hệ thống trường, lớp ngoài công lập.
Giáo dục mầm non: Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 160 trường mầm non so với năm học 2000-2001 số trường tăng tang thêm 57 trường. Quy mô trường học tăng ở hầu hết ở các loại trường, trong đó trường hệ công lập tăng nhanh, từ 29 trường năm học 2000-2001 tăng lên 82 trường năm học 2005-2006, tăng 182,76% ( tăng 53 trường).
Giáo dục phổ thông: Năm học 2005-2006 cả tỉnh có 247 trường tiểu học, tăng 2 trường so năm học 2000-2001; có 105 trường trung học cơ sở, tăng 26 trường so năm học 2000-2001; 22 trường trung học phổ thông, tăng 9 trường; 20 trường liên cấp tiểu học và trung học cơ sở, tăng 8 trường và 29 trường liên cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, tăng 9 trường so năm học 2000-2001. Cùng với sự biến động về trường thì số lớp cũng có sự biến động đáng kể. Năm học 2004-2005, toàn tỉnh có 4.309 lớp tiểu học, giảm 777 lớp so năm học 2000-2001; số lớp trung học cở sở là 2.511 lớp, tăng 576 lớp và 1.086 lớp phổ thông, tăng 438 lớp so năm học 2000-2001. Xu hướng trong những năm tới, số lớp cấp tiểu học tiếp tục giảm, số lớp cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông sẽ tăng lên.
* Đội ngũ giáo viên :
Cùng với đa dạng hoá các loại hình giáo dục, đội ngũ giáo viên ở các ngành học mầm non, phổ thông đã phát triển về số lượng và tăng cường chất lượng theo hướng chuẩn hoá.
Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 2.242 giáo viên mầm non; 5.168 giáo viên tiểu học; 4.477 giáo viên trung học cơ sở và 2.018 giáo viên trung học phổ thông. So với năm học 2000-2001, số giáo viên mầm non tăng 16,59%; giáo viên tiểu học tăng 4,15%; giáo viên trung học cơ sở tăng 46,74% và giáo viên trung học phổ thông tăng 71,45%. So với định mức về giáo viên/lớp của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì giáo viên toàn tỉnh cấp tiểu học thừa 150 giáo viên, cấp trung học cơ sở còn thiếu 196 giáo viên.
Trước yêu cầu về nâng cao chất lượng giáo viên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn hàng năm cũng tăng lên đáng kể. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn bậc tiểu học từ 80,03% năm học 2000-2001 tăng lên 95,78% năm học 2004-2005; cấp trung học cơ sở cũng tăng từ 86,59% năm học 2000-2001 tăng lên 92,72% năm học 2004-2005 và cấp trung học phổ thông tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn năm học 2004-2005 là 90%.
Giáo viên giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiêp cũng tăng cả về số lượng và chất lượng. Đến năm 2005 trên địa bàn toàn tỉnh có 332 giáo viên giảng dạy đại học, 91 giảng viên giảng dạy cao đẳng và 145 giảng viên giảng dạy trung học chuyên nghiệp. Số giảng viên có trình độ trên đại học ở các trường đại học năm học 2005-2006 đạt 46,99%, tăng gần 2% so với năm học 2000-2001; ở các trường cao đẳng đạt 41,76%, tăng 3,5% và ở các trường trung học chuyên nghiệp đạt 10,34%, tăng 4,78% so năm học 2000-2001.
* Phổ cập giáo dục :
Kết quả xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học tiếp tục được duy trì và phát triển. Toàn tỉnh đã hoàn thành chương trình xoá mù chữ và phổ cập tiểu học từ năm 1997, đến nay 12/12 huyện, thị, thành phố vẫn giữ được chuẩn xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Công tác phổ cập trung học cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh. Năm học 2005-2006, toàn tỉnh có 82/145 xã, phường, thị trấn hoàn thành hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, tăng 53 xã so năm học 2000-2001; nâng tỷ lệ số xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập cấp trung học cơ sở trên tổng số xã, phường, thị trấn từ 21,01% năm học 2000-2001 lên 56,55% năm học 2005-2006. Phấn đấu đến năm học 2007-2008, toàn tỉnh sẽ hoàn thành xong chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
* Chất lượng và hiệu quả giáo dục :
Hệ thống trường, lớp ngày càng mở rộng và được bố trí hợp lý nên số học sinh bỏ học giảm rõ rệt thể hiện qua công tác duy trì sĩ số. Tỉ lệ giảm sĩ số chung cả 3 cấp học giảm từ 3,31% năm học 2000-2001 xuống còn 2,22% năm học 2004-2005 ; trong đó cấp tiểu học giảm từ 1,95% xuống 1,26%, cấp trung học cơ sở giảm từ 4,69% xuống 3,02% và cấp trung học phổ thông giảm từ 4,81% xuống còn 3,32%.
Tỷ lệ hoàn thành cấp học qua các năm học đối với tiểu học xu hướng tăng lên, từ 99,14% năm học 2000-2001 đến 99,92% năm học 2004-2005; cấp trung học phổ thông cũng tăng từ 84,16% năm học 2000-2001 lên 85,69% năm học 2004-2005. Riêng cấp trung học cơ sở, tỷ lệ tốt nghiệp giảm xuống từ 96,06% năm học 2000-2001 còn 93,48% năm học 2004-2005. Nhìn chung tỷ lệ hoàn thành các cấp học không ổn định qua các năm học, không đồng đều giữa các cấp học do công tác đổi mới phương pháp dạy và học đã được triển khai nhưng chưa đồng bộ; cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhất là đồ dùng dạy học, phòng thí nghiệm, thiết bị thực hành còn thiếu thốn; công tác phụ đạo, kèm cặp học sinh yếu một số trường chưa được quan tâm đúng mức. Ngoài ra trong những năm qua, các khối tiến hành thay sách giáo khoa theo quy định của Bộ Giáo dục - Đào tạo nhưng việc tiếp cận và triển khai giảng dạy theo nội dung sách mới của không ít giáo viên còn lúng túng.
* Công tác giáo dục vùng đồng bào dân tộc :
Giáo dục dân tộc trong những năm qua tiếp tục phát triển ổn định, hệ thống trường dân tộc nội trú được củng cố và mở rộng ngày càng đáp ứng nhu cầu học tập của con em dân tộc trong tỉnh. Năm học 2004-2005, toàn tỉnh Lâm Đồng có 5 trường phổ thông dân tộc nội trú, trong đó có 1 trường dân tộc nội trú tỉnh với 1.300 học sinh đang theo học.
Số học sinh dân tộc các cấp phổ thông xu hướng tăng nhanh trong những năm qua, nhất là cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông. Năm học 2004-2005, toàn tỉnh có 63.167 học sinh dân tộc, chiếm 23,23% tổng số học sinh các cấp học phổ thông toàn tỉnh, tăng bình quân hàng năm 6,1%. Trong đó cấp tiểu học có 39.466 học sinh, chiếm 29,94% trong tổng số học sinh tiểu học toàn tỉnh, tăng 7,86% so năm học 2000-2001; cấp trung học cơ sở có 19.268 học sinh, chiếm 19,53% tổng số học sinh trung học cơ sở và tăng 108,6% và cấp trung học phổ thông có 4.433 học sinh, chiếm 10,7% trong tổng số học sinh trung học phổ thông toàn tỉnh, tăng 282,16% so năm học 2000-2001.
Mặc dù đời sống vùng đồng bào dân tộc còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh, địa hình phức tạp, cách trở gây khó khăn trong việc đi lại cho học sinh dân tộc, nhất là vào mùa mưa. Thực hiện chủ trương phát triển giáo dục đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc nên trong những năm qua hệ thống trường lớp được điều chỉnh, quy hoạch; phát triển nhiều điểm trường tiểu học đến tận thôn buôn, mở các lớp nhỏ trung học cơ sở và trung học phổ thông nhằm rút ngắn khoảng cách đi lại cho học sinh. Vì vậy tỉ lệ giảm sĩ số học sinh cuối năm học so với học sinh huy động đầu năm học các cấp học liên tục giảm qua các năm học. Tỷ lệ giảm sĩ số cuối năm học cấp tiểu học từ 3,35% năm học 2000-2001 giảm còn 1,92% năm học 2004-2005; cấp trung học cơ sở giảm từ 7,47% xuống còn 3,44% năm học 2004-2005 và cấp trung học phổ thông từ 8,89% năm học 2000-2001 giảm xuống còn 3,8% năm học 2004-2005.
Song song với việc duy trì tốt công tác sĩ số thì chất lượng văn hóa các cấp học cũng từng bước được nâng lên, đạt tỷ lệ khá cao tương đương với tỷ lệ bình quân chung các cấp học toàn tỉnh. Trong 5 năm, tỷ lệ xếp loại văn hoá trung bình trở lên bình quân hàng năm cấp tiểu học đạt 92,5%; cấp trung học cơ sở đạt 80% và cấp trung học phổ thông đạt 54%