Nội dung chính

Phần thứ nhất

Phần thứ hai Phần thứ ba  

PHẦN THỨ NHẤT

LÂM VIÊN VÀ ĐỒNG NAI THƯỢNG
TRƯỚC KHI BƯỚC VÀO CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

ách mạng tháng Tám thắng lợi, đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc ta - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người chủ đất nước, đó là " một cuộc đổi đời chưa từng có đối với người Việt Nam" *. Đảng ta từ một Đảng không hợp pháp trở thành một Đảng lãnh đạo chính quyền trong cả nước. Nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến đã trở thành một nước độc lập, tự do, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời, chính quyền nhân dân còn non trẻ đã phải đương đầu với nhiều khó khăn phức tạp. Chưa bao giờ trên đất nước ta lại có nhiều kẻ thù như vậy, bọn phản động trong nước đang tìm cách ngóc đầu dậy chống phá cách mạng, âm mưu lật đổ chính quyền. Chế độ phong kiến mấy nghìn năm, chính sách cai trị, xâm lược của thực dân Pháp, phát xít Nhật còn để lại hậu quả rất nặng nề, nền kinh tế đang gặp những khó khăn thiếu thốn nghiêm trọng.

Nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, ngay sau khi giành được chính quyền nhân dân ta đã nhanh chóng khắc phục và vượt qua mọi khó khăn, từng bước ổn định đời sống, giữ vững chính quyền, chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Hòa nhịp với thắng lợi chung của cả nước, nhân dân các dân tộc anh em ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đứng lên giành chính quyền và tập trung mọi sức lực để xây dựng chế độ mới. Từ đây người Kinh và người Thượng là những người làm chủ thật sự đất nước, không khí tự hào, phấn khởi bao trùm mọi tầng lớp nhân dân.

Sau khởi nghĩa, Mặt trận Việt Minh và chính quyền cách mạng ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng đã nỗ lực rất cao, thực hiện từng bước chương trình Việt Minh nhằm phục vụ nhân dân, củng cố chính quyền các mạng. Những chủ trương và công tác đã thực hiện:

1) Giải tán toàn bộ chính quyền tay sai của địch, thành lập chính quyền cách mạng từ Tỉnh đến cơ sở, sử dụng một số công chức, trí thức tình nguyện tham gia cách mạng. Thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc của Đảng trong Ủy ban và Mặt trận Việt Minh tỉnh, một số đại biểu dân tộc ít người và nhân sĩ trí thức. Ông Ta-tion Đôn là ủy viên ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Lâm Viên.

Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Đồng Nai Thượng cũng có một đại biểu dân tộc ít người. Nhiều buôn làng tự động thành lập ủy ban nhân dân cách mạng. Tỉnh Lâm Viên mở cuộc họp bao gồm các giới tại rạp Lang-biang (nay là Rạp Giải Phóng- đường Phan Đình Phùng - Đà Lạt) để thành lập Ủy ban Việt Minh Tỉnh; sau đó các tổ chức công nhân, phụ nữ, thanh niên, hội phụ lão cứu quốc được thành lập. Ở Đà Lạt, công nhân các ngành nghề đặt trụ sở tại nhà Mỹ Nga, đường Lò Gạch (nay là nhà số 3- đường Hoàng Diệu) và coi đây là trụ sở "Tổng công hội". Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Viên quyết định bắt giam và giải ra Trung bộ để xét xử tên Trần Văn Lý (nguyên Tổng đốc Ninh Thuận- Bình Thuận- Lâm Viên và Đồng Nai Thượng), Ưng An (nguyên Quản đạo Lâm Viên) và một số tên tay sai đắc lực của Pháp, Nhật như Cò Nồng, mật thám Kế, một số tên cha cố đội lốt tôn giáo chống phá cách mạng.

Trong thời gian này ở Đồng Nai Thượng cũng thành lập Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc. Ủy ban nhân dân Tỉnh đồng ý cho Cao Minh Hiệu (nguyên Quản đạo Đồng Nai Thượng) về quê.

Ở hai tỉnh các đoàn thể cứu quốc tích cực tham gia các hoạt động xã hội như: Ban Hồng thập tự, tuần lễ vàng, tuần lễ đồng, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của chính phủ trong các tầng lớp nhân dân.

2) Giải tán các đội bảo an, tổ chức các đơn vị vệ quốc đoàn và dân quân, tự vệ; thu nhận những sĩ quan, binh lính, bảo an tình nguyện theo Cách mạng. Tỉnh Lâm Viên sử dụng Đội bảo an theo Cách mạng làm cán bộ chỉ huy cấp trung đội. Trong số 200 súng trường, 4 súng máy thu được, Lâm Viên đã chi viện cho tỉnh Đồng Nai Thượng và tỉnh Ninh Thuận 100 súng trường. Tỉnh Đồng Nai Thượng dùng Quản, Đội theo cách mạng làm huấn luyện viên. Giải tán các tổ chức cảnh sát, mật thám của Pháp, Nhật, thành lập cơ quan công an và cảnh sát nhân dân. Đưa một số cán bộ đi học trường quân chính do Trung ương mở ở Hà Nội để đào tạo cán bộ quân sự, chuẩn bị phát triển lực lượng quân đội. Hoan nghênh và thu nhận một số hạ sĩ quan và binh lính quân đội Nhật tình nguyện tham gia lực lượng vũ trang cách mạng và sử dụng làm huấn luyện viên quân sự. Hầu hết những anh em này đều tham gia quân đội và hoạt động tích cực.

3) Tịch thu và sung công tài sản của chính quyền thực dân và chủ tư bản Pháp. Thành lập các ban tự quản của công nhân để quản lý các xí nghiệp, đồn điền này và tiếp tục sản xuất. Phát động phong trào tăng gia sản xuất lương thực. Những công tác trên đã được thực hiện tốt.

Đồng bào các dân tộc ở hai tỉnh đã tích cực hưởng ứng phong trào tổ chức "Quỹ độc lập", "Tuần lễ vàng", "Tuần lễ đồng", đã quyên góp được một số lớn vàng, đồng và tiền, riêng Lâm Viên đã thu được 10 kg vàng, có người đã hiến cả những tư trang kỷ niệm của đời mình cho cách mạng.

4) Thi hành sắc lệnh bãi bỏ thuế thân, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời hai tỉnh đã thi hành triệt để, vì đây là một thứ thuế dã man của thực dân Pháp. Tuyên bố ngày làm 8 giờ, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của giai cấp công nhân. Thành lập Ban cứu tế và trại cứu tế, nuôi dưỡng người già, người tàn tật không nơi nương tựa. Thực hiện sắc lệnh giảm tức, hoãn nợ cho người nghèo. Ủy ban nhân dân Đồng Nai Thượng tuyên bố xóa nợ người Thượng còn nợ người Kinh.

Tổ chức phong trào lạc quyên và hũ gạo tiết kiệm giúp đỡ đồng bào miền Bắc bị đói. Các tầng lớp nhân dân của hai tỉnh đã nhiệt liệt tham gia với tinh thần "Người trong một nước phải thương nhau cùng", tinh thần"Nhường cơm xẻ áo".

5) Thực hiện sắc lệnh thanh toán nạn mù chữ mỗi tỉnh đều thành lập cơ quan bình dân học vụ, tổ chức các lớp học ban đêm. Phát động phong trào thể dục, thể thao, văn nghệ. Ở Đồng Nai Thượng đã dịch các bài hát Cách mạng ra tiếng dân tộc để đưa vào các vùng dân tộc ít người. Các trường học tiếp tục mở cửa, số học sinh đi học đông hơn trước. Chương trình Việt Minh được đưa vào nội dung giảng dạy, xóa bỏ những nội dung giáo dục trái với đường lối cách mạng của Đảng.

Tuy chính quyền đã về tay nhân dân, nhưng ở Đà Lạt quân Nhật vẫn còn chiếm giữ những vị trí quan trọng như Nhà máy Điện, Ngân hàng, Bưu điện, Viện Pát- xtơ và đóng quân trong một số đồn. Lúc này, chúng vẫn thực hiện những điều quy định của chính quyền cách mạng. Trước ngày 6.9.1945 một số lớn quân Nhật đã rút, số còn lại tập trung ở cư xá Bờ-noa (tức Chi Lăng hiện nay), một số gác ở cư xá Đờ-cu (hiện nay ở Trường Trần Hưng Đạo) và cư xá Ben-lơ-vuy (hiện nay ở Đơn Dương). Tại Đà Lạt chỉ còn một số lính Nhật canh gác. Ở Đồng Nai Thượng một số ít quân Nhật đóng tại xưởng Đuy-vi-nhô (Duvignaud). Quân Nhật chuẩn bị rút khỏi hai tỉnh và định giao trại giam người Pháp cho ta. Thay vì để làm việc đó quân Nhật bị thực dân Pháp dựa vào thế lực quân Anh, buộc Nhật giao các vùng đất ở miền Nam Việt Nam đồng thời với việc giải giáp. Nhật đã rút khỏi vùng nào, phải quay lại chiếm giữ để bàn giao cho Pháp. Vì vậy, quân Nhật ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng chẳng những không rút, mà còn đưa số quân đã đi quay lại Đà Lạt, chiếm đóng thêm nhiều đồn bót, trạm gác.

Ngày 24.9.1945, quân Nhật ở Đà Lạt mời đại biểu Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Viên đến, buộc phải chấp nhận hai điều kiện: một là, dán khắp nơi trong tỉnh bản thông báo của Gra-zây (Gracey) (8) Tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Đông Dương; hai là, giải tán các lực lượng vũ trang của ta, nộp vũ khí cho Nhật. Đoàn đại biểu ta bị Nhật giữ lại hai ngày đêm uy hiếp tinh thần, ta đã nhượng bộ và chấp nhận hai điều kiện, nhưng có sửa đổi là ta được giữ 200 súng để thanh niên gác. Đoàn đại biểu ta về báo cáo, ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Viên không đồng ý với sự thỏa thuận ấy, gửi thư cho Nhật bác bỏ các yêu sách. Tuy vậy, ta cũng phải giao cho Nhật một số súng để tình hình bớt căng thẳng.

Ở Đồng Nai Thượng, quân Nhật cũng yêu sách những điều tương tự với Ủy ban nhân dân Tỉnh. Nhưng ta đã tranh thủ và thuyết phục được quân Nhật ở Đồng Nai Thượng nên chỉ giao súng hỏng có tính chất lấy lệ. Trong lúc giao vũ khí, lực lượng vũ trang ta phải rút khỏi đồn nhưng sau đó vẫn trở về ở lại trong đồn và không mang súng công khai đi ngoài đường. Tình hình chính trị ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng trở nên căng thẳng, quân Nhật thường xuyên kiếm chuyện gây rắc rối. Mặt khác để thực hiện ý đồ đánh chiếm các tỉnh Nam Trung Bộ, thực dân Pháp đã dùng quân Nhật từ Sài Gòn lên đánh chiếm Blao, Di Linh, Đà Lạt (11.1945) và chúng thả tất cả người Pháp bị giam giữ.

Phát hiện cao nguyên Lang - Biang và cao nguyên Djiring (1893), nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất thực dân Pháp ra sức xây dựng, khai thác Đà Lạt thành nơi nghỉ dưỡng nổi tiếng ở Đông Dương. Giai cấp tư sản thực dân Pháp độc quyền kinh doanh hầu hết các ngành kinh tế: Công nghiệp, xây dựng, thương nghiệp, khách sạn và đồn điền... Đến năm 1945 các đường giao thông quan trọng đã hoàn thành như đường số 8 nối liền từ Phan Thiết lên Di Linh, đường 11 từ Tháp Chàm đến Đà Lạt, đường 20 nối liền Sài Gòn với Đà Lạt, đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt, sân bay dân dụng Liên Khàng; xây dựng xong đập và nhà máy thủy điện Ankroét với công suất 3.500KWA, một số nhà máy cưa, ga ra sửa chữa ô tô, xưởng sửa chữa xe lửa, một số cơ sở khí tượng thủy văn, nhà máy nước, xây dựng hàng ngàn biệt thự, ba cư xá lớn: Đờ-cu, Bờ-noa, Đa-vít và khách sạn Palace nổi tiếng, đã có trên 70 đồn điền trà, cà phê và nhiều cơ sở trồng rau, hoa, có đồn điền lớn như Trà Cầu Đất diện tích hơn 900 ha, có lúc công nhân lên tới trên 1.600 người; về giáo dục đã có nhiều trường trung, tiểu học.

Nằm trên độ cao khống chế và địa hình rừng núi, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng có vị trí chiến lược quan trọng đối với Cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Đông Dương. Đà Lạt chẳng những có nhiều cảnh đẹp, là nơi nghỉ dưỡng, có vị trí chiến lược quân sự, mà còn có mối quan hệ chặt chẽ về đời sống và dư luận chính trị, xã hội đối với Sài Gòn, miền Đông Nam Bộ và các tỉnh miền Trung Trung Bộ và ngược lại.

Trước khi thực dân Pháp đến, ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng chỉ có đồng bào các dân tộc ít người, trình độ chậm phát triển, sống theo lối du canh du cư, chưa phân hóa giai cấp. Đi đôi với yêu cầu xây dựng và khai thác, thực dân Pháp đã bắt ép, lựa chọn người Kinh từ miền Bắc, miền Trung và cùng một số người ở các tỉnh đến đây làm ăn sinh sống. Từ đó tình hình dân cư ở Lâm Viên có sự thay đổi, người Kinh sống tập trung ở Đà Lạt, các thị trấn và dọc theo các đường 11, 20. Tỉnh Đồng Nai Thượng, dân cư hầu hết là đồng bào dân tộc ít người, phần đông là các dân tộc như Châu Mạ, K'Ho. Do biến đổi về cơ cấu dân cư, tình hình giai cấp cũng có nhiều biến động. Vùng đồng bào dân tộc ít người ở gần thị xã, thị trấn, trục giao thông hiện tượng bóc lột kinh tế đã xuất hiện, xã hội đã bắt đầu phân hóa giai cấp, có kẻ giàu người nghèo và đã có một số làm công nhân ở các đồn điền. Vùng người Kinh tại Đà Lạt có giai cấp công nhân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp nông dân là những người làm vườn và một số ít tư sản Việt Nam, không có giai cấp địa chủ. Trước năm 1945 giai cấp công nhân ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng có khoảng 15.000 người, chiếm 1/4 tỷ lệ dân số, không kể những người làm thuê theo thời vụ. Đây là giai cấp chiếm số lượng đông và có mặt ở các ngành xây dựng, đồn điền, thương nghiệp, công nghiệp là lực lượng sản xuất, lực lượng cách mạng chủ yếu ở địa phương. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 dân số Đà Lạt có khoảng 25.000 người, Đồng Nai Thượng có khoảng 35.000 người, trong đó người Kinh có khoảng 3.000 người.

Đồng bào dân tộc ít người có truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Thực dân Pháp tìm mọi thủ đoạn vừa đàn áp, vừa dụ dỗ, mua chuộc nhưng không khuất phục được những vùng đồng bào Châu Mạ, chúng phải coi đó là "vùng chưa hề biết đến". Phong trào "Mộ Cọ"  trong những năm 1937 - 1938 trở thành phong trào quần chúng rộng rãi thu hút hàng vạn người đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Mặc dù bị đàn áp nhưng phong trào này mãi mãi là bản anh hùng ca bất diệt, là niềm tự hào của đồng bào các dân tộc ít người trong tỉnh. Đồng bào Kinh hầu hết là người lao động, vì bị áp bức bóc lột, không thể sống ở quê nhà, đến đây sinh sống. Tuy ở nhiều địa phương khác nhau họp lại nhưng đều là những nơi có truyền thống đấu tranh cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, các tầng lớp nhân dân đã cùng nhau đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung và làm thất bại âm mưu chia rẽ dân tộc Kinh - Thượng, chia rẽ địa phương và vẫn sống chan hòa, đoàn kết cùng nhau làm cách mạng.

Sau khi đảo chính Pháp (9.3.1945), Nhật đã tuyên truyền thuyết "Đại Đông Á", thuyết "Đồng chủng da vàng" đề cao công ơn của Nhật đã cho Việt Nam "độc lập". Tại Lâm Viên có một số người xu thời hoặc nhẹ dạ và một số tay sai đã đứng ra tổ chức diễu hành hoan hô Nhật và lập Ban liên lạc với Nhật. Các tổ chức chính trị cơ hội đã xuất hiện như Tân Việt Nam, Đoàn thanh niên tiền tuyến... Lúc đầu có nhiều thanh niên bồng bột chưa nhận rõ bản chất chính trị của tổ chức, đã ngây thơ tham gia phong trào thanh niên tiền tuyến; nhiều công chức, trí thức, một số tư sản gia nhập Tân Việt Nam. Nhưng trước ngày khởi nghĩa, do ảnh hưởng rộng rãi của Mặt trận Việt Minh và sự hoạt động của cán bộ tại chỗ đã làm cho nhiều người thức tỉnh và hiểu rõ tính chất chính trị của các tổ chức này, đã rút ra, không tham gia, do đó tổ chức Tân Việt Nam bị tan rã. Lực lượng thanh niên tham gia Đoàn thanh niên tiền tuyến, cán bộ Mặt trận Việt Minh đã tìm cách gia nhập và vận động để chuyển sang hoạt động theo các chủ trương của Việt Minh và tuyển chọn để kết nạp vào đoàn thể Thanh niên cứu quốc. Qua đó huy động được đông đảo thanh niên cũng như các tầng lớp đã tích cực tham gia Tổng khởi nghĩa, gia nhập vào dân quân tự vệ, bộ đội và chuẩn bị tiến hành cuộc kháng chiến.

Nhìn lại quá trình cách mạng ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, các tầng lớp nhân dân Kinh - Thượng đã tích cực tham gia các cuộc đấu tranh dân sinh dân chủ và Cách mạng tháng 8.1945, chuẩn bị tiến hành kháng chiến, đã thể hiện lòng yêu nước và sức mạnh vĩ đại của các dân tộc anh em tại địa phương. Sau khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền tồn tại không được bao lâu nhưng ảnh hưởng của Cách mạng tháng Tám và những ngày sống dưới chế độ mới đã để lại cho các tầng lớp nhân dân nhiều ấn tượng sâu sắc. Mặt khác do thời gian sống trong độc lập - tự do và hòa bình chưa được bao lâu, việc tuyên truyền giáo dục chưa được nhiều nên nhận thức về Cách mạng, về Đảng, về chế độ mới của nhân dân lao động còn những mặt hạn chế.

Tổ chức Đảng ở địa phương ra đời sớm, liền sau khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, tuy nhiều lần bị đứt quãng nhưng vẫn phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Cách mạng ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng từ năm 1930 đến tháng 9.1945. Trong thời gian khởi nghĩa giành chính quyền ở Đà Lạt tuy có hai chi bộ nhưng vì trình độ nhận thức và năng lực còn hạn chế nên chưa trực tiếp lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Một số cán bộ, đảng viên được điều từ nơi khác đến Lâm Viên hoạt động trước khởi nghĩa do chưa thật nhất trí với nhau nên chậm hình thành tổ chức lãnh đạo của Đảng ở địa phương mà chỉ cá nhân đứng ra vận động nhân dân khởi nghĩa. Ở Đồng Nai Thượng, trước và sau cách mạng tháng Tám, chưa có đảng viên và tổ chức Đảng tại chỗ để trực tiếp lãnh đạo phong trào.

Cách mạng tháng Tám thắng lợi, nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên mới cùng nhau đứng ra thành lập chính quyền, tổ chức các đoàn thể và xây dựng lực lượng vũ trang nhưng chủ yếu là ở vùng người Kinh. Sự lãnh đạo của Đảng trong thời gian này vẫn do cá nhân cán bộ, đảng viên thông qua tổ chức Việt Minh và chính quyền Tỉnh. Hầu hết cán bộ chủ chốt của Việt Minh và chính quyền là công chức, trí thức, họ có lòng yêu nước, nhiệt tình cách mạng nhưng chưa có kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng. Đã thế Lâm Viên và Đồng Nai Thượng là chiến trường xa Trung ương, xa cấp trên, nằm sâu trong lòng địch, lại phải chiến đấu trước toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) nên có nhiều khó khăn lúng túng, do vậy có lúc chưa đề ra được những chủ trương đúng đắn kịp thời.

Đây là những đặc điểm chủ yếu của tình hình Lâm Viên và Đồng Nai Thượng trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đã chi phối đến thuận lợi, khó khăn trong quá trình lãnh đạo chỉ đạo để tiến hành cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Lê Duẩn- Tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng. NXB Sự Thật, 1980, trang 13.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(1) Người dân tộc Chu ru, nguyên thừa phái ở dinh Quản Đạo tỉnh Lâm Viên tại Đà Lạt, năm 1968 là Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Tuyên Đức. Chết năm 1977 tại Đà Lạt.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(2) Tổng đốc là chức vụ cao nhất về hành chính của một tỉnh lớn hay kiêm nhiều tỉnh.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(3) Là chức vụ để phụ trách hành chính ở một địa phương được xem như một tỉnh nhỏ.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(1) Đội là cấp trung sĩ.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(2) Quản là cấp thượng sĩ.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(6) Sắc lệnh ký ngày 7.9.1945. Văn kiện Đảng 1945-1954, tập II, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương- Hà Nội 1978, trang 110.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(7)Sắc lệnh ký ngày 8.9.1945, Văn kiện Đảng 1945-1954, tập II, Ban NCLSĐ Trung ương- Hà Nội 1978, trang 114-115.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(8) Nội dung chủ yếu của bản thông cáo là: 1- Không được phép tổ chức những cuộc biểu tình; 2- Không được hội họp bất cứ chỗ nào; 3- Không được mang vũ khí bất cứ thứ gì, dù là gậy, dao, tầm vông vót nhọn...; 4- Không được ra đường từ 21h30 đến 5h sáng. Theo sách: Cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân VN, tập 1, XB lần 2, Nxb Sự Thật, trang 13.

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(9) Dân số Lâm Viên chủ yếu ở Đà Lạt, trong đó Pháp kiều có khoảng 5.000, Hoa kiều khoảng 5.000, Việt khoảng 10.000, người Thượng 880. Đến năm 1945 khi Pháp trở lại chiếm đóng người Kinh ở Lâm Viên CHỈ CÒN KHOẢNG 5.200. Ở Đồng Nai Thượng đồng bào Kinh đi tản cư khoảng 2.800 người. (Theo tư liệu thống kê của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Lâm Đồng).

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(10) Theo báo cáo của Công sứ Đồng Nai Thượng năm 1923 "La Région Inconnue".

Trở về đoạn vừa đọc

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(11) Từ "Mộ Cọ" theo tiếng K'Ho là bà Trắng (vì Bạch tạng), bà là người dân tộc K'Ho, ở buôn Đồng Đò, huyện Di Linh.

Trở về đoạn vừa đọc

 
 

Nội dung chính

Phần thứ nhất

Phần thứ hai Phần thứ ba