| Mục lục sách | Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Lâm Đồng |
|
|
|
||
PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶC
ĐIỂM ĐỊA LÝ, DÂN CƯ, KINH TẾ, XÃ HỘI, CHÍNH TRỊ
TỈNH LÂM ĐỒNG
âm
Đồng (mới) là một tỉnh miền núi phía Nam - Tây Nam Trung bộ, trung
tâm là thành phố Đà Lạt, Bắc và Tây giáp tỉnh Đắc Lắc và Sông
Bé, Đông và Nam giáp tỉnh Phú Khánh, Thuận Hải và Đồng Nai. Toàn
tỉnh có diện tích 9.952 km2, nằm trên cao nguyên đất đỏ ở
độ cao từ 200 m đến 1.900 m. Phía Tây Bắc có nhiều núi cao, trong
đó có núi Lang-Biang (2.167 m), phía Tây Nam là một vùng đất nông
nghiệp phì nhiêu, nhiệt độ trung bình là 20 độ C, lượng mưa trung
bình hàng năm là 2.017 mm, dân số 396.657 người (1979), mật độ trung
bình 40 người/km2.
Về hành chính: Lâm Đồng (mới) dưới thời Pháp thuộc, đầu tiên gọi là tỉnh Đồng Nai Thượng. Đất Lâm Đồng trước khi lập tỉnh Đồng Nai Thượng là (vùng núi bao gồm hai cao nguyên Lang-Biang và Djiring) thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Năm 1893 Y-éc-xanh (Yersin), y sĩ gốc người Thụy sĩ, quốc tịch Pháp phát hiện cao nguyên Lang-Biang và Djiring (lúc đó còn gọi chung là Djiring). Năm 1899 một phái đoàn của chính quyền Pháp đặt dưới quyền chỉ huy của Ét-nét U-trây (Ernest Outrey) có nhiệm vụ tìm hiểu khả năng địa phương và vạch con đường nối liền từ duyên hải đến đây. Phái đoàn ở tại Djiring. Năm ấy, tỉnh Đồng Nai Thượng được thành lập. Đến năm 1900 tên Toàn quyền Đu-me (Doumer) quyết định Đà Lạt (trên cao nguyên Lang-Biang) là khu nghỉ mát cho người Pháp trực thuộc toàn quyền.
Sau nhiều lần thay đổi về tổ chức, năm 1901 tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, trở thành đại lý hành chính và được sáp nhập vào tỉnh Bình Thuận; còn Đà Lạt trở thành đại lý của tỉnh Ninh Thuận. Năm 1920 tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập gồm 3 quận: Djiring, Blao, Dran, tỉnh lỵ vẫn ở Djiring, đồng thời lập thị xã Đà Lạt bao gồm cả cao nguyên Lang-Biang. Cũng trong năm này tên bù nhìn Bảo Đại lập khu tự trị Lâm Viên bao gồm Đà Lạt. Đến năm 1941, chính quyền Pháp lập tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ là Đà Lạt. Tỉnh Đồng Nai Thượng vẫn như cũ (1).
Nhật đảo chính Pháp, chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim đặt chức tỉnh trưởng Đồng Nai Thượng.
Cách mạng tháng Tám thành công, Chính quyền nhân dân được thành lập trên hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.
Trong thời kỳ chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ vì yêu cầu chỉ đạo chiến tranh nên ta và địch cũng có nhiều sự thay đổi về tổ chức và địa giới của hai tỉnh. Năm 1950, Ủy ban hành chính Liên khu 5 quyết định nhập hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành một tỉnh lấy tên là Lâm Đồng. Cũng thời gian ấy, Bảo Đại, Quốc trưởng bù nhìn được sự đồng tình của Pháp thành lập "Hoàng triều cương thổ" ở Tây Nguyên trực thuộc Quốc trưởng, đặt chức tỉnh trưởng Đà Lạt và tỉnh trưởng Đồng Nai Thượng. Năm 1958, ngụy quyền Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng là tỉnh Lâm Đồng và thành lập tỉnh Tuyên Đức bao gồm đô thị Đà Lạt và quận Dran được tách khỏi địa phận tỉnh Lâm Đồng, nhưng về phương diện hành chính thì đô thị Đà Lạt vẫn có quy chế riêng. Đến năm 1966 Đà Lạt trở thành đơn vị riêng trực thuộc Trung ương bù nhìn.
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quyết định nhập hai tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng (cũ) với 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy thành một tỉnh là Thuận - Lâm và thành lập thành phố Đà Lạt trực thuộc Trung ương. Năm 1976, hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng (cũ) lại được tách ra nhập với thành phố Đà Lạt thành tỉnh Lâm Đồng (mới).
Như vậy, quá trình hình thành tỉnh Lâm Đồng (mới) về tổ chức hành chính có nhiều biến đổi. Hiện nay, Lâm Đồng gồm thành phố Đà Lạt và 6 huyện trực thuộc là Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương, Bảo Lộc, Di Linh và Đạ Huoai.
Tuy ở vùng nhiệt đới và là một tỉnh miền núi nhưng Lâm Đồng (mới) được thiên nhiên ưu đãi nên có khí hậu ôn đới, trồng trọt được quanh năm, Lâm Đồng có nhiều tài nguyên và thắng cảnh, là một tỉnh giàu đẹp. Về tiềm năng kinh tế thì dồi dào, đặc biệt là đất rừng (66,3%), có nhiều rừng thông 2 lá, 3 lá, nhiều khả năng khai thác gỗ, nhựa thông và lâm sản quý. Vì nhiều sông, suối và ở độ dốc đầu nguồn nên tiềm lực thủy điện rất lớn. Khí hậu, thời tiết thuận lợi cho cây công nghiệp như chè, càfé, dâu tằm.... đạt năng suất cao. Ngành thủ công mỹ nghệ có những mặt hàng được khách trong và ngoài nước ưa chuộng. Lâm Đồng còn có khoáng sản quý như: Bốc-xít, cao lanh, quặng chì, than nâu... Ngoài ra, khả năng kinh doanh ngành du lịch rất lý tưởng do khí hậu ôn hòa suốt cả năm và có nhiều cảnh đẹp thiên nhiên phong phú.
Trong nông nghiệp, Lâm Đồng dưới chế độ cũ có 3 hình thức và kiểu cách sản xuất: ở đồn điền (có diện tích và giá trị sản lượng lớn nhất), các chủ đồn điền Pháp và Việt Nam kinh doanh theo phương thức tư bản chủ nghĩa, thuê nhân công, bóc lột giá trị thặng dư. Ở vùng nông dân cá thể sản xuất theo cách làm ăn riêng lẻ. Ở vùng dân tộc ít người thường sản xuất không ổn định, tình hình du canh vẫn còn phổ biến. Không có phát canh thu tô theo phương thức sản xuất phong kiến.
Lâm Đồng có vị trí quan trọng về quân sự vì nằm trên độ cao khống chế đối với các tỉnh lân cận. Đà Lạt ở cách Cam Ranh và bờ biển 70 km đường thẳng. Tỉnh Lâm Đồng còn là đầu mối giao thông quan trọng nối liền Nam Bộ với Tây Nguyên, nối liền đồng bằng với miền Tây cực Nam Trung Bộ. Do đặc điểm địa lý nên Lâm Đồng có vị trí chiến lược quan trọng đối với vùng Tây Nguyên và Nam Đông Dương. Đà Lạt đối với địch không những là nơi nghỉ mát mà còn là nơi tương đối an toàn nên dưới thời thực dân Pháp, nhất là thời đế quốc Mỹ đã xây dựng ở đây những công trình, những cơ quan có tính chất chiến lược để phục vụ chiến tranh, phục vụ sự thống trị của chúng như mở trường Võ bị Quốc gia, trường cảnh sát dã chiến, trung tâm vô tuyến viễn thông, nha địa dư; có lúc Nhà đại diện Tây Nguyên đặt trụ sở ở Đà Lạt.
Về dân cư: dân cư Lâm Đồng thưa thớt, phần lớn sống tập trung ở thành phố Đà Lạt, thị xã Blao, các thị trấn, vùng ven thành phố, thị xã, thị trấn, dọc trục lộ giao thông, các đồn điền và một số ít buôn ở vùng dân tộc ít người. Trước năm 1900 trên mảnh đất Lâm Đồng chỉ có toàn đồng bào dân tộc ít người gồm 5 dân tộc: K'ho, Mạa, M'nông, Rayley, Chu ru. Sau năm 1900 dân tộc kinh mới đến theo kế hoạch xây dựng Đà Lạt của Pháp và đến năm 1945 thì người kinh chiếm đa số trong dân số Lâm Đồng. Hiện nay dân cư Lâm Đồng thuộc 32 dân tộc khác nhau, trong đó có 10 dân tộc có dân đông: Kinh 69,5%, K'ho 16,4%, Mạa 4,1%, Hoa 3%, Chu ru 1,9%, Nùng 1,5%, Tày 1,14%, M'nông 1,07%, Thái 0,74%, Rayley 0,19%.
Trước khi thực dân Pháp đến, các dân tộc ít người ở Lâm Đồng còn ở trình độ chậm tiến. Đa số các dân tộc sinh sống du canh du cư, gieo trồng nương rẫy, chỉ một số ít biết làm ruộng nước. Hiện tượng bóc lột kinh tế đã xuất hiện, xã hội bắt đầu phân hóa, có kẻ giầu người nghèo nhưng chưa hình thành giai cấp rõ rệt. Sau đó thì nền kinh tế tự cấp tự túc bị chính sách bóc lột và quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa của thực dân Pháp chi phối làm cho biến dạng. Đất đai màu mỡ bị Pháp chiếm, đất, ruộng bị thu hẹp, mùa màng kém sút, xâu thuế ngày càng cao. Người dân tộc bán sản phẩm và bán sức lao động để mua những thứ cần dùng và để đóng thuế. Mua bán hàng hóa, làm thuê và đi làm xâu ngày ngày càng nhiều nhưng đời sống vô cùng khó khăn, một số đồng bào không thể sống với nương rẫy được nữa phải thường xuyên đi làm thuê cho các đồn điền người Pháp, trở thành công nhân. Chiếm đất, xâu thuế đụng chạm mạnh đến đời sống tự do của các dân tộc ít người. Vì vậy, những cuộc đấu tranh chống chiếm đất, chống xâu thuế, bất hợp tác với thực dân Pháp đã nổ ra và có nơi đã tiến lên đấu tranh vũ trang trong đồng bào dân tộc ít người ở Lâm Đồng từ trước khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời.
Đồng bào Mạ và đồng bào M'nông tham gia phong trào đấu tranh chống vũ trang chống Pháp do Ana Trang Lơng lãnh đạo trên 20 năm. Thực dân Pháp không bao giờ lập được hội tề, thu được thuế và vẽ được bản đồ trong vùng người Mạa. Đồng bào K'ho cũng liên tục đấu tranh và cuộc đấu tranh lớn nhất là phong trào Mộ cộ. Đồng bào Raylay ở Lâm Đồng đã cùng đồng bào Raylay ở Ninh Thuận tấn công đồn An Tiêm của Pháp.
Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp lãnh đạo, tinh thần đấu tranh của các dân tộc ít người ở Lâm Đồng được nhân lên gấp bội. Các vùng dân tộc ít người ở vùng cao là những căn cứ vững chắc trong kháng chiến chống Mỹ sau này và đã góp phần vào thắng lợi của Cách mạng giải phóng dân tộc ở địa phương.
Đầu thế kỷ 20, để khai thác kinh tế Lâm Đồng và xây dựng thành phố Đà Lạt nghỉ mát, thực dân Pháp tuyển mộ người Kinh từ nhiều tỉnh đến. Những tỉnh có người đến sớm và đông nhất là Nghệ Tĩnh, Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghĩa Bình và Bình Trị Thiên. Theo đà xây dựng và khai thác của thực dân Pháp, dân số Đà Lạt nói riêng và Lâm Đồng nói chung về người Kinh ngày càng phát triển, nhưng có lúc không ổn định và biến động. Những năm đầu mới thành lập, Đà Lạt có 1.500 người (1923), năm 1938 lên 9.500 người, năm 1945 phát triển đến 25.800 người, năm 1946 sau Cách mạng tháng Tám dân số lại tụt xuống còn 5.283 người. Dân số cả tỉnh Lâm Đồng trước năm 1945 có khoảng trên 60.000 người (cả Kinh và dân tộc ít người), từ năm 1946 đến đầu năm 1954, vì có chiến tranh nên tốc độ phát triển dân số chậm lại, sau tháng 7-1954 dân số lại phát triển nhanh hơn do cưỡng ép di cư, di dân nên năm 1955 toàn tỉnh có trên 100.000 người, trong đó Đà Lạt có 53.390 người, đến năm 1974 dân số cả tỉnh tăng lên 271.421 người, trong đó Đà Lạt 92.870 người; đến năm 1979 tỉnh Lâm Đồng có 396.687 người, trong đó có 118.267 đồng bào dân tộc ít người, riêng Đà Lạt có 91.934 người.
Tuy từ bốn phương đến nhưng người Kinh đã đoàn kết đùm bọc lẫn nhau và đoàn kết chan hòa với đồng bào dân tộc ít người tại địa phương. Thực dân Pháp tuy có âm mưu chia rẽ nhưng không có hiện tượng xung đột xảy ra giữa các dân tộc Kinh, Thượng trong tỉnh.
Người Kinh đến Lâm Đồngng hầu hết là người lao động, vì bị áp bức, bóc lột, không thể nào sống được ở quê nhà nên phải "tha phương cầu thực". Thời kỳ thực dân Pháp phần lớn là những người thợ, làm thuê, một số ít làm rau... Trong quá trình đó có một số người khai phá đất thành ruộng, vườn để tự sản xuất. Họ rất cần cù lao động, chất phác, thật thà và sẵn có tinh thần căm thù và đấu tranh chống thực dân phong kiến. Phần đông những người này đến đây đều mang theo tư tưởng Cách mạng và truyền thống đấu tranh của quê hương, có người đã tham gia Cách mạng. Họ rất quyến luyến quê hương nên thường liên hệ với quê nhà. Nhờ đó mà tin tức về phong trào Cách mạng ở các nơi đều được truyền đến đây. Vì vậy, tỉnh Lâm Đồng tuy ở miền núi xa xôi nhưng sớm tiếp thu ảnh hưởng của Cách mạng và nhạy cảm với tình hình chính trị trong nước chủ yếu là do các mối liên hệ đó.
Ở Lâm Đồng có một hiện tượng đáng được chú ý là dân cư trong người Kinh không ổn định, có lúc tăng, lúc giảm. Người Kinh đến Lâm Đồng có người ở hẳn lại, có người đến một thời gian rồi lại đi. Năm 1946, số dân giảm gần một nửa. Năm 1956, dân số lại tăng hơn gấp bội. Nguyên nhân gây ra hiện tượng đó là do công việc làm ăn có hay không, tình hình chính trị có ổn định hay không, tình cảm quyến luyến quê hương nhiều hay ít. Hiện tượng đó ảnh hưởng rất lớn đến phong trào Cách mạng Lâm Đồng, làm cho phong trào lúc mạnh, lúc yếu và có lúc đứt quãng. Cán bộ, đảng viên, quần chúng Cách mạng lúc đến, lúc đi với những lý do như nhân dân bị Pháp trục xuất hay bắt về quê hương quản thúc.
Từ năm 1910, thực dân Pháp bắt đầu xây dựng và khai thác Đà Lạt, Đồng Nai Thượng. Chúng đã đầu tư nhiều tiền của để xây dựng đường bộ, đường sắt, nhà máy điện, nhà máy nước, các khách sạn, dinh thự, biệt thự, trường học và các công trình khác.
Về giao thông, năm 1920 thực dân Pháp hoàn thành đường 11 nối liền Phan Rang với Đà Lạt, năm 1932 làm xong đường 20 từ Sài Gòn lên Đà Lạt, năm 1933 có đường sắt từ Tháp Chàm lên Đà Lạt. Trước năm 1945 xây dựng sân bay dân dụng Liên Khương và sau năm 1954 có sân bay quân sự Cam Ly.
Về xây dựng cơ quan, khách sạn, biệt thự thì năm 1922 khác sạn Pa-lát (Palace) hoàn thành. Biệt thự ở Đà Lạt đến năm 1938 có 328 cái, năm 1945 lên 1.000 cái và 3 cư xá lớn: Đờ-cu (Decoux), Bờ-noa (Benoitr), Đa-vít (David).
Về đồn điền chè, càfé từ năm 1920 đã được chú trọng xây dựng và ngày càng phát triển, trong đó có đồn điền lớn như Sở chè Cầu Đất (1.600 công nhân). Năm 1928 có 41 đồn điền, đến năm 1971 lên 341 đồn điền với diện tích 9.776 hécta.
Khai thác mủ ngo (nhựa thông) trong thời kỳ thực dân Pháp đã tuyển mộ phu người miền Bắc vào để làm. Những công trình khác như năm 1920 có nhà máy nhiệt điện nhỏ. Năm 1925 khởi công nhà máy cưa Cầu Đất và 3 ga ra. Năm 1944 xây dựng xong thủy điện Ăng-kờ-rô-ét (Ankroet) 3.500 kW. Năm 1964 nhà máy thủy điện Đa Nhim được khởi công với công suất 160.00 kW...
Mặc dù tiềm năng kinh tế Lâm Đồng rất lớn, nhưng đến năm 1945 thực dân Pháp mới khai thác một phần không đáng kể. Tuy chúng đã cướp của nhân dân nhiều đất đai, bóc lột nhân dân nhiều sức lao động, nhưng chúng chỉ làm những gì để phục vụ cho mục đích ích kỷ của chúng mà thôi.
Về cai trị: thực dân Pháp thực hiện ở Lâm Đồng một chính sách thực dân rất tham lam và nham hiểm. Chính sách này nằm trong âm mưu tách Tây Nguyên ra khỏi Việt Nam để đặc quyền vơ vét tài nguyên vùng đất đỏ và gây hằn thù giữa các dân tộc ít người ở Tây Nguyên với dân tộc Kinh nhằm dùng dân tộc ít người ở Tây Nguyên chống người Kinh. Ngoài ra, chúng còn ra sức đào tạo, mua chuộc tầng lớp trên trong dân tộc ít người để làm tay sai đắc lực và chỗ dựa cho chính quyền thực dân Pháp ở đây.
Trước Cách mạng tháng Tám, ở Đà Lạt và Đồng Nai Thượng người Pháp nắm hết các chức vụ đứng đầu trong bộ máy cai trị và trong các ngành kinh tế. Người Pháp cũng làm chủ hầu hết các nhà máy, hãng thầu, khách sạn, hãng buôn, đồn điền. Đà Lạt và Đồng Nai Thượng tuy có những viên chức quản đạo, bang tá nhưng thực tế không phải là các tỉnh của Xứ Trung kỳ bảo hộ, mà là các tỉnh của riêng thực dân Pháp. Chỉ vì Pháp rất cần người Kinh nên mới cho người Kinh đến, nhưng những người Kinh đến đây phải có thẻ căn cước và nếu Pháp cho là "bất hảo" thì bị trục xuất. Mưu đồ này của thực dân Pháp lộ rõ hơn khi chúng định lập nước "Tây Nguyên tự trị" năm 1946.
Chế độ cai trị của Pháp đối với nhân dân Việt Nam là một chế độ áp bức dân tộc, phát xít. Viên công sứ Pháp có quyền hành vô hạn độ, có quyền bắt giam, kết án tù bất cứ ai, bất cứ tội trạng gì. Tất cả các viên chức Pháp kể cả những chủ đồn điền đều có quyền đánh, bắt giam người Việt Nam. Người Pháp giết người Việt Nam thì không có tội nhưng người Việt Nam đụng đến người Pháp thì bị kết tội nặng.
Chính quyền thực dân Pháp thu thuế nhân dân ta rất nặng, ngoài thuế muối, thuế rượu v.v... mỗi người phải đóng suất thuế thân từ 10 đến 14% thu nhập hàng năm của mình. Riêng đồng bào dân tộc ít người mỗi năm mỗi người phải đi làm xâu trên dưới một tháng để làm đường, làm nhà cho chính quyền Pháp và sản xuất không công cho các chủ đồn điền Pháp. Đây là một hình thức bóc lột phong kiến dã man mà thực dân Pháp dùng một cách phổ biến, để bóc lột đồng bào dân tộc ít người.
Chính quyền Pháp đã chiếm và cướp hàng vạn hecta đất màu mỡ để cho giai cấp tư sản thực dân Pháp lập các đồn điền, đẩy đồng bào các dân tộc ít người vào những vùng cằn cỗi. Cùng với các chính sách bóc lột, đàn áp khác đã làm cho nhân dân Lâm Đồng ngày càng cơ cực, đồng bào các dân tộc ít người thường xuyên bị đói và không đủ áo che thân.
Thực dân Pháp tự cho mình là "văn minh", cho người Việt Nam là giống người "hạ đẳng". Trong giao thiệp hàng ngày và trong giấy tờ chúng gọi người Việt Nam là "tên" (Le nommé) và người Việt Nam gọi chúng là "quan lớn", ông chủ. Bất cứ một người Pháp nào cũng có thể đánh, mắng, và giết người Việt Nam mà không bị trừng phạt. Thành phố Đà Lạt có vùng dành riêng cho người Pháp, có vùng dành riêng cho người Việt, có rất nhiều trường học dành riêng cho "con Tây", có cư xá Đờ-cu (Decoux) dành riêng cho các gia đình Pháp. Tiền lương viên chức người Pháp cao hơn viên chức người Việt hàng chục lần.
Chia rẽ các dân tộc để thống trị là chính sách cố hữu của thực dân Pháp, chúng dùng lính người Kinh để đàn áp người Thượng và dùng lính người Thượng để đàn áp và gác tù người Kinh. Hàng năm chúng tổ chức lễ "ăn thề" ở Di Linh để lừa phỉnh người Thượng, thề trung thành với Pháp để kích động người Thượng thù hằn người Kinh.
Kìm hãm nhân dân trong vòng ngu dốt cũng là chính sách cơ bản của thực dân Pháp. Trước năm 1945, 95% dân số Lâm Đồng mù chữ, trong đồng bào dân tộc ít người thì gần 100%. Tại Đà Lạt năm 1930 chỉ có một trường tiểu học (ngang phổ thông cấp I hiện nay), với 400 học sinh. Không có một trường nào dạy tiếng dân tộc ít người. Trong khi đó Pháp phát triển tôn giáo và xây dựng nhiều nhà thờ Thiên chúa, Tin lành, chùa Phật, bán nhiều rượu, thuốc phiện, mở nhiều nhà chứa, sòng bạc để đầu độc tinh thần và thể xác nhân dân. Trong đồng bào dân tộc ít người, chúng duy trì và lợi dụng các phong tục tập quán lạc hậu, có hại để giam hãm đồng bào trong tối tăm.
Về các giai cấp: trước năm 1945 ở Lâm Đồng có 5 giai cấp: giai cấp tư sản thực dân (gồm tư sản ngoại kiều), giai cấp tư sản Việt Nam, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Không có giai cấp địa chủ.
Giai cấp tư sản thực dân hình thành từ khi có Chính quyền thực dân Pháp ở Lâm Đồng và kinh doanh hầu hết các ngành kinh tế: công nghiệp, thầu xây dựng, thương nghiệp, dịch vụ (khách sạn), nông nghiệp (đồn điền chè, càfé, chăn nuôi). Một số tư sản hoa kiều kinh doanh trong thương nghiệp, dịch vụ, có quan hệ khăng khít với tư sản thực dân, có nhiều vốn liếng và ưu thế, đã khống chế nền kinh tế Lâm Đồng và thu lợi nhuận nhiều nhất. Phần đông các cơ sở kinh doanh của Pháp ở đây là chi nhánh của các công ty tư bản Pháp ở Đông Dương. Được Chính quyền Pháp giúp đỡ (cấp đất, bắt dân làm xâu, giao thầu, trợ cấp, miễn và giảm thuế, ủng hộ về chính trị...), giai cấp tư sản thực dân, ngoài lợi nhuận do kinh doanh, còn bóc lột nhân dân bằng thủ đoạn phi kinh tế: quỵt tiền công, cướp đất, lợi dụng dân làm xâu không lương cúp phạt... Các chủ tư bản Pháp không chỉ bóc lột nhân dân và công nhân về kinh tế mà còn áp bức về chính trị một cách hung hăng tàn bạo.
|
|
| Mục lục sách | Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Lâm Đồng |
CHÚ THÍCH
(1) Dưới thời Pháp thuộc, bù nhìn Nam Triều đặt tỉnh Lâm Viên là đạo, có Quản đạo cai quản.
(1) Nguyên là Hội Phục Việt, thành lập từ năm 1925.
(4) Quê Nhượng Bản, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, nay là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam.