Nội dung chính

Chương một

Chương hai

Chương ba

Chương bốn

Chương năm

Kết luận

 

KẾT LUẬN

gày 3-4-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Lâm Đồng đã kết thúc thắng lợi, góp phần làm nên đại thắng mùa xuân 1975 và cũng là kết thúc cuộc trường kỳ kháng chiến 30 năm chống ngoại xâm của dân tộc ta và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam nước ta.

Trong suốt 21 năm tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng quê hương, Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng (cũ) ở trong những điều kiện khách quan không thuận lợi: xa sự chỉ đạo của Trung ương, vùng căn cứ và giải phóng rất ít dân và bị chia cắt, vùng địch tạm kiểm soát rộng và phong trào cách mạng ở đó chưa mạnh, thực lực các mặt của cách mạng đều mỏng và yếu...Nhưng với lòng yêu nước cao cả, chí căm thù địch sâu sắc, thấm nhuần chân lý "không có gì quý hơn độc lập tự do", "thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ", nhân dân các dân tộc vượt qua mọi thử thách, quyết đánh và quyết thắng, đưa sự nghiệp kháng chiến cứu nước ở địa phương đến thắng lợi hoàn toàn.

Thắng lợi trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước mà nhân dân Lâm Đồng đạt được, bắt nguồn trước hết từ đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam; nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo tài giỏi của Trung ương Đảng, Bộ chính trị Trung ương, của Trung ương Cục miền Nam; sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và sâu sát của Khu ủy và Quân khu ủy Khu 6; sự chi viện giúp đỡ to lớn sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc và tỉnh Hà Giang anh em; của tình đoàn kết chiến đấu "chung một chiến TRƯỜNG" CỦA ?ẢNG BỘ VÀ QUẤN DẤN CÁC TỈNH CỰC NAM Trung Bộ và Tây Nguyên...

Đảng bộ Lâm Đồng mãi mãi ghi nhớ công lao to lớn và nghĩa tình sâu nặng đó của đồng bào và chiến sĩ cả nước. Nhân dân các dân tộc ở Lâm Đồng, cả những thế hệ hôm nay và mai sau không thể nào quên trong những năm kháng chiến gian khổ và ác liệt đó đã có hàng nghìn con người ưu tú ở mọi miền đất nước đến đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với chúng ta, trong đó có nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh hoặc để lại một phần xương máu của mình trên mảnh đất cao nguyên này, những hy sinh cao cả đó góp phần làm nên truyền thống cách mạng vẻ vang của địa phương chúng ta.

Song, chúng ta hết sức tự hào là: với lòng trung thành vô hạn, quyết tâm cách mạng cao, năng lực sáng tạo phong phú, tinh thần phấn đấu hy sinh bền bỉ và ý chí tự lực tự cường của Đảng bộ và nhân dân hai tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng (cũ) là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến cứu nước.

Quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng, với quan điểm dựa vào sức mình là chính và cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Đảng bộ hai tỉnh đã động viên, tổ chức và lãnh đạo mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt Kinh, Thượng, lương, giáo, đoàn kết thành một khối, tất cả đều tham gia kháng chiến, vận dụng linh hoạt mọi hình thức và phương pháp đấu tranh, vừa đánh địch vừa xây dựng mình, biến lực lượng cách mạng từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, giành thắng lợi từng bước, từng bộ phận, tiến lên giành toàn thắng. Qua rèn luyện, thử thách, Đảng bộ hai Tỉnh cũng không ngừng được củng cố, xây dựng và trưởng thành, trở thành hạt nhân lãnh đạo và bộ tham mưu có kinh nghiệm của phong trào cách mạng, được nhân dân tin yêu, gắn bó, đùm bọc.

Nhân dân các dân tộc hai tỉnh, trong suốt 21 năm kháng chiến cứu nước từ vùng căn cứ, giải phóng đến vùng địch tạm kiểm soát hay trong các ngục tù của địch luôn hướng về cách mạng, hướng về lý tưởng độc lập tự do, hướng về Bác Hồ, vị cha già của dân tộc. Đó là nguồn sức mạnh vô biên, nguồn động viên cổ vũ to lớn nhân dân hai tỉnh giữ vững niềm tin, đoàn kết keo sơn, đứng vững và vượt qua mọi thử thách, tự nguyện hy sinh vì thắng lợi của cách mạng.

Lực lượng vũ trang nhân dân 2 tỉnh trong kháng chiến, bao gồm 3 thứ quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, không ngừng được phát triển, củng cố và trưởng thành, phát huy bản chất tốt đẹp của quân đội cách mạng và truyền thống "anh bộ đội Cụ Hồ", trở thành lực lượng nòng cốt của phong trào cách mạng địa phương, góp phần cùng nhân dân làm nên những chiến công vẻ vang, đặc biệt là những chiến công tết Mậu Thân (1968), tháng 7-1970 (chiến dịch TK) và thắng lợi mùa xuân năm 1975 lịch sử.

Ghi nhận cống hiến to lớn của Đảng bộ nhân dân hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng (cũ) trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, Đảng và nhà nước ta đã khen tặng những phần thưởng cao quý: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh; tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang cho 8 đơn vị và 7 cá nhân; tặng thưởng các loại huân chương, huy chương cho hàng chục ngàn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào có công với cách mạng.

Thực tiễn 21 năm lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương của Đảng bộ hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng (cũ) rất phong phú, tuy nhiên hiện nay chưa đủ điều kiện để tổng kết, đánh giá một cách toàn diện và chính xác, trước mắt từ những sự kiện lịch sử đã tổng hợp trong cuốn sách này, chúng ta có thể bước đầu rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1- Nắm vững, vận dụng và thực hiện đường lối, phương châm, phương pháp cách mạng của Đảng vào điều kiện cụ thể của địa phương:

Đường lối và phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng ta thể hiện xuyên suốt quan điểm bạo lực cách mạng, tư tưởng chiến lược tấn công, quan điểm quần chúng và độc lập tự chủ. Quán triệt tinh thần đó, Đảng bộ hai tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng (cũ) đã có sự vận dụng sáng tạo trên cơ sở đánh giá đúng tình hình và xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị của địa phương. Là một địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng ở Nam Tây Nguyên gắn liền với miền Đông Nam Bộ và thành phố Sài Gòn, trung tân đầu não về chính trị, kinh tế và quân sự của ngụy quyền, Lâm Đồng có nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ thông suốt hành lang chiến lược Bắc Nam, nhằm vừa tạo thế tạo lực cho cách mạng địa phương vừa phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng toàn miền Nam.

Nhân tố hàng đầu bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng, của địa phương là phải hình thành hệ thống tổ chức lãnh đạo - hệ THỐNG TỒ CHỨC ?ẢNG. TỪ BAN CÁN SỰ CỰC NAM ĐẾN LIÊN TỈNH ỦY 3 VÀ Khu ủy khu 6 đã rất chú trọng việc hình thành tổ chức Đảng cho Lâm Đồng. Những tổ chức ban đầu như Ban cán sự Đảng Đà Lạt, Ban cán sự Đảng Di Linh, và từ cuối năm 1961 trở đi lần lượt thành lập Đảng bộ Lâm Đồng (cũ), Tuyên Đức. Với chủ trương mở phong trào đến đâu hình thành tổ chức chỉ đạo đến đó nên suốt trong quá trình kháng chiến trên hầu hết các địa bàn của hai tỉnh có phong trào và cơ sở cách mạng đều xây dựng được tổ chức Đảng để chỉ đạo.

Cùng với việc xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, linh hồn của phong trào cách mạng, Đảng bộ hai tỉnh rất coi trọng xây dựng và lãnh đạo lực lượng vũ trang cách mạng. Chiến trường Tuyên Đức (Lâm Đồng cũ) suốt cả cuộc kháng chiến không phải là địa bàn hoạt động của các đơn vị chủ lực, do đó việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ngày càng lớn mạnh có ý nghĩa rất quan trọng. Vừa chiến đấu vừa xây dựng, lực lượng vũ trang hai tỉnh từng bước trưởng thành, 3 thứ quân phối hợp chặt chẽ hoạt động đánh địch trên mọi địa bàn, cả phía trước và phía sau, vừa bảo vệ vững chắc vùng căn cứ cách mạng, vừa đánh vào hậu phương và các căn cứ của địch trong các đô thị, hỗ trợ nhân dân các vùng địch tạm kiểm soát nổi dậy diệt ác, phá kèm giành quyền làm chủ. Lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh đã thực sự là trụ cột của chiến tranh nhân dân, xứng đáng với lòng tin yêu, quý mến của nhân dân.

Vận dụng phương châm 3 vùng chiến lược (vùng căn cứ giải phóng, vùng nông thôn, vùng đô thị) ở Lâm Đồng cũng thể hiện một nét riêng, do tổ chức và hình thể chiến trường quy định. Mỗi vùng tuy có yêu cầu nhiệm vụ cụ thể khác nhau nhưng lại có quan hệ gắn bó chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau, nhằm phục vụ một yêu cầu chiến lược là xây dựng thế và lực của ta mạnh để tấn công địch, từng bước mở rộng ảnh hưởng, uy thế và quyền làm chủ của cách mạng, vây ép địch buộc chúng thu hẹp vùng kiểm soát, tiến lên tấn công kết hợp với nổi dậy của nhân dân, giành thắng lợi cuối cùng ở đô thị là hậu phươg và sào huyệt của địch.

Vùng căn cứ, giải phóng của cách mạng, chủ yếu là địa bàn vùng núi, địa thế hiểm trở, diện tích rất rộng, dân số ít, là địa bàn cực kỳ trọng yếu đối với sự nghiệp kháng chiến. Đây là hình ảnh thu nhỏ của xã hội mới dưới chính quyền dân chủ nhân dân. Được sự trực tiếp lãnh đạo và giáo dục của tổ chức Đảng, có trình độ giác ngộ cách mạng cao, cộng với tính ưu việt của chế độ dân chủ và những quyền lợi khác do cách mạng đem lại, nhân dân vùng căn cứ giải phóng phấn khởi, hăng hái tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng với khẩu hiệu tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho phía trước. Đối với các lực lượng vũ trang, đây vừa là địa bàn đứng chân, xây dựng huấn luyện, là căn cứ xuất phát để tấn công địch, vừa là địa bàn để căng lực lượng địch, thực hiện tiêu hao, tiêu diệt sinh lực chúng.

Vùng nông thôn, là địa bàn rộng lớn, đông dân, nhiều tiềm lực kinh tế, đại bộ phận đều nằm dưới sự kiểm soát của địch, hầu hết nhân dân đều bị dồn vào những khu tập trung ấp chiến lược chủ yếu bố trí ven các đường giao thông và chung quanh các đô thị, nhất là 2 trung tâm lớn, thị xã Đà Lạt và thị xã Blao. Đây là địa bàn có ý nghĩa chiến lược đối với ta và cả với địch, là vùng tranh chấp thường xuyên và quyết liệt giữa hai phía. Tùy tình hình so sánh lực lượng cụ thể mỗi địa bàn mà sự kiểm soát của địch hay sự làm chủ của ta có thay đổi từng lúc. Đây cũng là địa bàn mà lực lượng vũ trang cách mạng hoạt động với nhiều hình thức phong phú, vừa tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch với hiệu suất chiến đấu cao, vừa hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ấp, phá kèm, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng. Vùng nông thôn nói chung, nhất là vùng do cách mạng làm chủ và tranh chấp mạnh là nơi cung cấp một phần quan trọng sức người sức của cho kháng chiến.

Vùng đô thị trong kháng chiến là địa bàn chiến lược quan trọng của địch, chủ yếu là 2 thị xã Đà Lạt, Blao, là những trung tâm chính trị, kinh tế và quân sự của địch. Toàn bộ cơ quan đầu não và hệ thần kinh chiến tranh của địch đều tập trung ở vùng này. Song, đây cũng là địa bàn mà địch cũng bộc lộ những điểm yếu của chúng, nhất là do đặc điểm về địa lý và giao thông nên các trung tâm này dễ bị cô lập và uy hiếp. Đặc biệt, thị xã Đà Lạt, hầu như suốt thời gian kháng chiến, lúc nào lực lượng cách mạng cũng tổ chức được cơ sở trong nhân dân lao động, và từng lúc phong trào đấu tranh của nhân dân do lực lượng cách mạng chỉ đạo, tổ chức diễn ra mạnh mẽ, quyết liệt với cả thời gian dài, không những gây cho bọn địch tại chỗ khó khăn lúng túng, mà còn gây tác động dây chuyền đến các đô thị khác ở miền Nam.

Chiến trường Cực nam Trung Bộ nói chung, nhất là 2 tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng (cũ) do điều kiện địa lý tự nhiên, trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là chiến trường khó khăn gian khổ nhất. Một trong những thành tích và là kinh nghiệm có ý nghĩa nhất trong sự nghiệp cách mạng của 2 tỉnh là đã quán triệt và thực hiện sáng tạo quan điểm tự lực tự cường, dựa vào sức mình là chính. Các lực lượng cách mạng nêu cao quyết tâm chịu đựng khó khăn, kiên trì bám chiến trường, bám dân, bám phong trào, vừa đánh địch, vừa xây dựng và phát triển lực lượng, vừa tổ chức hậu cần để tự nuôi sống mình. Mỗi cân gạo, mỗi viên đạn từ hậu phương lớn đưa đến cho lực lượng cách mạng hai tỉnh phải mất thời gian cả năm hay nhiều tháng, phải đổi bằng biết bao mồ hôi, sức lực và cả bằng máu của những chiến sĩ các đơn vị vận tải chuyên nghiệp hay trong các đoàn dân công. Vì vậy, đói cơm, lạt muối, thiếu thuốc chữa bệnh là chuyện thường xảy ra đối với lực lượng cách mạng của hai tỉnh. Song không nơi nào, lúc nào lực lượng cách mạng thoát ly khỏi địa bàn công tác ngay cả những nơi khó khăn nhất, những thời kỳ đen tối nhất. Bởi vì nắm được dân, có cơ sở cách mạng, có phong trào là có tất cả.

2- Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng gắn với xây dựng vùng căn cứ cách mạng vững mạnh:

Địa bàn hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng (cũ) là nơi cư trú của 32 dân tộc. Người Kinh, hầu hết sống tập trung ở các thị xã, thị trấn và dọc các đường giao thông, còn các địa bàn khác là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người. Trước đây, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã dùng mọi âm mưu, thủ đoạn bằng kinh tế, chính trị, tôn giáo để mua chuộc, lôi kéo đồng bào, gây chia rẽ, thù hằn giữa các dân tộc.

Thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ cách mạng ở Nam Tây Nguyên, các đội vũ trang tuyên truyền của liên tỉnh 4, liên tỉnh 3 và miền Đông Nam Bộ làm nhiệm vụ xây dựng phong trào cách mạng trong vùng đồng bào dân tộc ít người ở Lâm Đồng, nối thông đường hành lang chiến lược Bắc - Nam và hình thành vùng căn cứ cách mạng.

Do thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, nên chỉ trong một thời gian ngắn các đội vũ trang tuyên truyền đã tuyên truyền, vận động hơn 10.000 đồng bào tham gia cách mạng, xây dựng các vùng căn cứ phía Nam và phía Bắc đường 20 (tỉnh Lâm Đồng cũ), phía Tây Bắc tỉnh Tuyên Đức.

Thành công lớn nhất trong quá trình xây dựng căn cứ là phát động cuộc cải cách dân chủ và thực hiện 5 phong trào thi đua. Vì vậy, vùng căn cứ không ngừng được củng cố và mở rộng, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày càng được nâng cao, những hủ tục mê tín, dị đoan dần được xóa bỏ. Vùng căn cứ của tỉnh đã trở thành hậu phương trực tiếp vững chắc là nơi cung cấp sức người, sức của cho phía trước đánh địch.

Để xây dựng vùng căn cứ vững mạnh, Đảng bộ Lâm Đồng thường xuyên chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc ít người. Những cán bộ, đảng viên người tại chỗ đã phát huy được vai trò lãnh đạo trong các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng, là lực lượng nòng cốt trong việc vận động đồng bào thực hiện 5 phong trào thi đua.

Tuy nhiên quá trình xây dựng vùng căn cứ ở tỉnh Tuyên Đức gặp nhiều khó khăn do công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng của các đội vũ trang tuyên truyền làm chưa thật tốt, chưa có biện pháp chống lại âm mưu tôn giáo hoá của địch đối với đồng bào dân tộc ít người, không xây dựng được cơ sở cốt cán trong quần chúng. Trong khi đó, địch dùng lực lượng quân sự cưỡng ép, kết hợp với dùng thần quyền giáo lý và vật chất để dụ dỗ, lôi kéo đồng bào vào sống trong các khu tập trung, ấp chiến lược. Từ cuối năm 1963, vùng giải phóng của tỉnh tuy rộng lớn, nhưng chỉ có 300 dân ở vùng căn cứ huyện Lạc Dương. Do đó, phong trào cách mạng tỉnh Tuyên Đức không có một vùng căn cứ vững chắc để bảo đảm mọi yêu cầu của cuộc kháng chiến.

3- Về vận dụng phương châm, phương thức công tác đô thị:

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thị xã Đà Lạt và thị xã Blao là tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế và quân sự của địch ở hai tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng (cũ). Đặc biệt, Đà Lạt có vị trí quan trọng đối với Nam Tây Nguyên, có quan hệ mật thiết về kinh tế, chính trị và phong trào quần chúng với các đô thị miền Nam.

Thấy được tầm quan trọng và vị trí chiến lược của Đà Lạt, sau Hiệp ĐỊNH GIƠ-NE-VƠ 1954, BAN CÁN SỰ CỰC NAM BỐ TRÍ CÁN BỘ Ở LẠI HOẠT động và thành lập Ban cán sự Đảng Đà Lạt để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, xây dựng cơ sở trong quần chúng. Từ giữa năm 1961 trở đi, Khu ủy 6, Tỉnh ủy Tuyên Đức và Thị ủy Đà Lạt đã từng bước vận dụng phương châm, phương thức công tác đô thị theo yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng. Hệ thống tổ chức Đảng, cơ sở cách mạng ở Đà Lạt được tổ chức theo nhiều hệ khác nhau, đề phòng khả năng bị địch đánh phá, nếu có bị tổn thất thì cũng chỉ tổn thất cục bộ, mất hệ này vẫn còn hệ khác hoạt động. Nhằm tập họp lực lượng quần chúng thành một mặt trận đấu tranh rộng rãi, tổ chức Đảng và cơ sở bên trong luôn luôn nắm vững khẩu hiệu đấu tranh là: hoà bình, độc lập, dân chủ, dân sinh. Những mục tiêu đó gắn chặt với nhau, được thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú, nhưng vẫn giữ được thế đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp. Do có quan hệ mật thiết với các đô thị miền Nam, nên phong trào đấu tranh chính trị ở Đà Lạt đã có sự phối hợp nhịp nhàng với phong trào bảo vệ hòa bình; phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên; phong trào đấu tranh của phật giáo; đấu tranh đòi thi hành hiệp định Pa-ri. .. Ngược lại, những cuộc đấu tranh chính trị lớn ở Đà Lạt cũng được sự đồng tình, ủng hộ và có ảnh hưởng đối với các địa phương khác.

Từ phong trào đấu tranh của quần chúng, ta đã chú ý xây dựng và bồi dưỡng cơ sở, cốt cán tại chỗ trên nguyên tắc tuyệt đối bảo đảm bí mật. Đây là lực lượng nòng cốt, hạt nhân lãnh đạo của các cuộc đấu tranh. Phong trào đấu tranh chính trị ở Đà Lạt tập họp được các tầng lớp nhân dân tham gia, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các tổ chức công khai hợp pháp, vì khẩu hiệu và mục tiêu đấu tranh phù hợp với nguyện vọng của quần chúng. Nhưng khi vận dụng phương thức đấu tranh, có lúc còn chủ quan; bộc lộ lực lượng nên bị địch đánh phá gây tổn thất cho phong trào.

Để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, hoạt động vũ trang ở Đà Lạt cũng được đẩy mạnh, các đơn vị biệt động, đội công tác, du kích mật của thị xã hoạt động trên các địa bàn, có nhiều trận đánh đạt hiệu quả cao, làm cho địch hoang mang, lo sợ và bị động đối phó. Những chiến dịch lớn tấn công vào Đà Lạt như cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968, chiến dịch TK cuối tháng 5-1970 đánh vào nhiều vị trí quan trọng của địch, làm chủ một số nơi trong thị xã đã khẳng định rằng Đà Lạt không còn là hậu cứ chiến lược an toàn, bất khả xâm phạm.

Do yêu cầu của phương châm công tác đô thị nên công tác binh vận ở Đà Lạt cũng có những đặc điểm khác. Mục tiêu chủ yếu là xây dựng cơ sở, cốt cán trong ngụy quân, ngụy quyền làm nhiệm vụ cung cấp tình hình địch để ta có kế hoạch đối phó kịp thời, góp phần làm suy yếu giảm hiệu lực bộ máy kèm của địch ở cơ sở, từ đó ta có điều kiện xây dựng các lõm chính trị bên trong thị xã.

Quá trình thực hiện phương châm đánh địch bằng 3 mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận và phương thức công tác đô thị ở Đà Lạt đã mang lại một hiệu quả lớn đối với phong trào cách mạng địa phương. Sự vận dụng sáng tạo công tác đô thị vào điều kiện cụ thể của địa phương là một kinh nghiệm lớn của Đảng bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

4-Về công tác xây dựng Đảng:

Thực tiễn công tác xây dựng Đảng của hai tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng (cũ) trong thời kỳ kháng chiến tuy chưa phong phú, nhưng Đảng bộ hai tỉnh đã đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng.

Một đặc điểm của đội ngũ cán bộ hai tỉnh lúc bấy giờ là gồm nhiều nguồn khác nhau và thường không ổn định. Do đó, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ có ý nghĩa quan trọng không những đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, làm nòng cốt cho phong trào cách mạng, mà còn gắn liền với công tác xây dựng, bồi dưỡng lực lượng cốt cán quần chúng, từ đó mà phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ và hình thành hệ thống tổ chức chỉ đạo.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ rất chú trọng công tác phát triển đảng viên, nhằm tăng cường sức chiến đấu và sự lãnh đạo của Đảng. Đối tượng chủ yếu để phát triển đảng viên cơ sở, cốt cán trong phong trào quần chúng, những quần chúng tích cực ở các VÙNG CỦNG CỐ VÀ CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TRONG CÁC CƠ QUAN ĐƠN VỊ. CẮN cứ vào trình độ nhận thức và vị trí công tác của từng đối tượng, công tác tuyên truyền giáo dục được tiến hành bằng các hình thức khác nhau, nhưng phải mang lại hiệu quả thiết thực. Vì vậy, chất lượng đảng viên ngày càng được nâng cao, phát huy được vai trò tiền phong gương mẫu trong mọi lãnh vực công tác.

Nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của các chi bộ, Đảng bộ đã có kế hoạch bồi dưỡng và xác định tính chất, nhiệm vụ của từng loại chi bộ. Từ đó mỗi chi bộ có phương hướng hoạt động, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị địa phương hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao. Đối với các chi bộ trong vùng địch kiểm soát, hình thức tổ chức và sinh hoạt phải tuyệt đối giữ bí mật, bám sát phong trào, cơ sở để chỉ đạo. Đảng bộ rất coi trọng công tác bồi dưỡng trình độ và năng lực cho các cấp ủy và đồng chí bí thư chi bộ đề các chi bộ nâng cao chất lượng sinh hoạt, giữ được nề nếp và nguyên tắc của Đảng.

Công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng cũng được Đảng bộ thường xuyên quan tâm nhằm quán triệt các chủ trương đường lối của Đảng, không ngừng nâng cao nhận thức, lập trường tư tưởng và ý chí chiến đấu. Qua công tác giáo dục chính trị tư tưởng, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, tăng cường sự đoàn kết thống nhất để có biện pháp và hình thức sinh hoạt cho phù hợp, đồng thời tổ chức các phong trào thi đua với những nội dung cụ thể, có tổng kết đánh giá để kịp thời biểu dương thành tích và uốn nắn những mặt còn tồn tại.

Những kinh nghiệm trên đây là sự kế thừa và phát triển những kinh nghiệm mà Đảng bộ tích lũy được trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngày nay, cách mạng đã chuyển sang giai đoạn mới, nhưng những kinh nghiệm đó vẫn có giá trị và ý nghĩa thiết thực cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

PHỤ LỤC

THÀNH tích khen thưởng của quân và dân tỉnh Lâm Đồng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) (*)

* Số liệu trên do Ban thi đua Văn phòng UBND tỉnh, Ban Tuyên giáo, Ban Tuyên huấn, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh và Phòng chính trị Sở Công an tỉnh Lâm Đồng cung cấp.

A- Những đơn vị được tặng danh hiệu anh hùng:

1- Trung đoàn 812

2- Tiểu đoàn 186

3- Tiểu đoàn 840

4- Đại đội 3 thuộc tiểu đoàn 840

5- Đại đội 5 thuộc tiểu đoàn 840

6- Đại đội 810

7- Xã Lộc Lâm (huyện Bảo Lộc)

8- Xã Đinh Trang Thượng (huyện Di Linh)

9- Xã Đồng Nai (huyện Cát Tiên)

                B. Những cá nhân được tặng danh hiệu anh hùng:

  1. Đồng chí Nguyễn Văn Sơn

  2. Liệt sĩ Nguyễn Trọng Nghĩa

  3. Liệt sĩ Nguyễn Tấn Định

  4. Liệt sĩ Trần Văn Côi

  5. Liệt sĩ Lê Thị Pha

  6. Liệt sĩ Nguyễn Đình Quân

  7. Liệt sĩ Nguyễn Văn Trúc.

C- Các loại huân chương:

  • 01 Huân chương Sao vàng

  • 02 Huân chương Hồ Chí Minh

  • 10 Huân chương Thành đồng

  • 03 Huân chương Quân công

  • Trên 12.000 huân chương tặng thưởng các gia đình có công với cách mạng.

 

lụx

Nội dung chính

Chương một

Chương hai

Chương ba

Chương bốn

Chương năm

Kết luận